Hiện nay có một luồng ý kiến bàn luận về việc nên bỏ Luật Đầu tư (link bài viết: https://baochinhphu.vn/dung-cam-cat-bo-diem-nghen-trong-luat-dau-tu-102250524064556898.htm) Tôi xin có một vài ý kiến bàn luận như sau:

Trích: “Trong khi đó, khái niệm “dự án đầu tư” trong luật hiện hành đang bị hiểu quá rộng. Chỉ cần lập một bản đề xuất, chưa cần vốn, chưa cần cam kết năng lực, một chủ đầu tư có thể tiếp cận được đất công. Điều này mở đường cho tình trạng “tay không bắt đất”, đầu cơ trục lợi và làm méo mó thị trường bất động sản.”

Bàn luận: Nếu như này thật thì nguy hiểm quá! Nếu thực tiễn đúng như bài báo tuyên bố thì từ quan chức cho tới doanh nhân đi tù hết lượt.

Trích: “Cơ chế ưu đãi đầu tư cũng không được thiết kế theo hướng tự động và minh bạch. Việc “có hay không có ưu đãi” phụ thuộc phần lớn vào sự phê duyệt của cơ quan có thẩm quyền.”

Bàn luận: Áp dụng ưu đãi đầu tư dựa trên điều kiện CẦN và ĐỦ (tương tự việc một chủ thể khi tham gia vào giao dịch dân sự thì phải có đủ năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự). (i) Điều kiện CẦN là phải ưu đãi phải được quy định trong luật, cơ chế ưu đãi, điều kiện hưởng ưu đãi phải được quy định rõ ràng, công khai, minh bạch. (ii) Điều kiện ĐỦ là nhà đầu tư phải có đề nghị hưởng ưu đãi và phải chứng minh mình đáp ứng, đủ điều kiện hưởng ưu đãi.

Luật sư Nguyễn Văn Đỉnh

Quy định theo hướng này là công bằng. Luật Đầu tư cũng quy định rõ: “Ưu đãi đầu tư được áp dụng có thời hạn và trên cơ sở kết quả thực hiện dự án của nhà đầu tư. Nhà đầu tư phải đáp ứng điều kiện hưởng ưu đãi theo quy định của pháp luật trong thời gian hưởng ưu đãi đầu tư.” Tức là ưu đãi đầu tư là một lời hứa của Nhà nước nhưng không thể áp dụng tùy tiện, bừa phứa.

Chẳng hạn với các dự án xã hội hóa trong lĩnh vực y tế, giáo dục…, các cơ sở xã hội hóa (các bệnh viện tư thục, cơ sở giáo dục tư thục…) phải đáp ứng tiêu chí tối thiểu (ví dụ số giường bệnh, số phòng học, điều kiện cơ sở vật chất…) thì Nhà nước mới cho phép hưởng ưu đãi đầu tư dưới hình thức miễn, giảm tiền thuê đất. Cách thiết kế quy định này là hài hòa, vừa bảo vệ nhà đầu tư, vừa bảo vệ lợi ích công, đảm bảo chính sách ưu đãi phát huy hiệu quả (tránh các cơ sở không đủ chất lượng tối thiểu vẫn được hưởng ưu đãi, gây thất thoát ngân sách và không công bằng với các nhà đầu tư khác).

Hoặc trường hợp nhà đầu tư được hưởng ưu đãi nhưng quá trình thực hiện dự án đã vi phạm. Ví dụ, nhà đầu tư được miễn tiền thuê đất do sử dụng đất để cung cấp các dịch vụ y tế, giáo dục, môi trường… nhưng sau đó doanh nghiệp này tự ý sử dụng đất trái phép vào các mục đích khác (ví dụ mục đích thương mại, dịch vụ). Trường hợp này, Nhà nước sẽ kiểm tra, xử phạt và truy thu tiền đất đã miễn, giảm nhằm bảo đảm ưu đãi được phân bổ đúng người, đúng việc, chứ không tràn lan, bừa phứa, tùy tiện. Đây cũng là lời cảnh báo cho các nhà đầu tư khác cần tuân thủ đúng quy định để được hưởng ưu đãi và duy trì ưu đãi đầu tư.

Như bài báo kiến nghị thì ưu đãi đầu tư là automatic, Thích-Thì-Hưởng. Như vậy nguồn lực đất đai chuyển từ sở hữu TOÀN DÂN sang sở hữu DẦN TOANG?

P.S 1: Để làm rõ, xin nhấn mạnh rằng Luật Đầu tư có một số bất cập và hiện Bộ Tài chính đang lấy ý kiến để rà soát sửa đổi toàn diện, tuy nhiên đạo luật này vẫn cần thiết, không thể bãi bỏ. Đặc biệt là thủ tục đầu tư, cơ chế báo cáo đánh giá, giám sát về đầu tư. Thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư bị coi là tội đồ nhưng như tôi đã viết trong các bài viết trước (anh chị em có thể đọc trên blog của tôi), thủ tục này hiện nay chủ yếu áp dụng cho các dự án có sử dụng đất và là bước đệm chuyển giao giữa thủ tục quy hoạch với thủ tục triển khai thực hiện các dự án theo quy hoạch đã được phê duyệt. Trong đó, thủ tục này hiện nay chủ yếu chỉ còn áp dụng cho các dự án áp dụng cơ chế đấu giá, đấu thầu để lựa chọn nhà đầu tư nhằm lựa chọn được nhà đầu tư có năng lực tốt và tăng thu cho ngân sách nhà nước, giúp phân bổ có hiệu quả nguồn lực đất đai.

Cụ thể, thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư được thực hiện trước khi đấu giá, đấu thầu. Nhà nước sẽ căn cứ các quy hoạch đã được duyệt và nhu cầu đầu tư, nhu cầu của thị trường… để chấp thuận chủ trương đầu tư một dự án và đưa ra đấu giá, đấu thầu để lựa chọn doanh nghiệp triển khai. Ta không thể thực hiện các dự án chỉ căn cứ vào quy hoạch được. Tại sao? Vì quy hoạch có thời kỳ, thể hiện khả năng phán đoán, dự báo và tầm nhìn chủ động, từ sớm, từ xa của cơ quan quản lý. Chẳng hạn, một địa phương đã quy hoạch 20.000 hec-ta đất để phát triển đô thị (sẽ phải thu hồi đất và chuyển mục đích sử dụng đất từ loại đất nông nghiệp sang mục đích phi nông nghiệp) và thời kỳ quy hoạch là 20 năm. Như vậy, “mệnh lệnh” chuyển 20.000 hec-ta đất nông nghiệp sang mục đích phi nông nghiệp để phát triển đô thị được đặt ra cho 20 năm. Vậy ta phải phân kỳ nó như thế nào đây, mỗi năm thực hiện bao nhiêu hec-ta? Câu hỏi ấy sẽ chỉ được trả lời thông qua thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư. Nếu không có thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư, toàn bộ 20.000 hec-ta có thể được chuyển mục đích sử dụng đất ngay năm đầu tiên của kỳ quy hoạch 20 năm, dẫn đến thu hồi đất tràn lan, gây lãng phí nguồn lực, đất đai bị hoang hóa (do người dân không có nhu cầu nhà ở nhiều đến thế) trong khi nông dân không còn đất nông nghiệp mà canh tác. Ai chịu trách nhiệm đây?

Dĩ nhiên, tương lai ta có thể sửa các luật liên quan đến quy hoạch trong đó quy định việc lập quy hoạch phải gắn liền với kế hoạch thực hiện quy hoạch đó. Nôm na là nếu ta quy hoạch 20.000 hec-ta đất để phát triển đô thị như trên thì trong bước quy hoạch phải tính toán để phân kỳ luôn xem mỗi năm sẽ thực hiện quy hoạch ở vị trí nào, quy mô bao nhiêu hec-ta và căn cứ vào đây để thực hiện mà không cần phải phân bổ nguồn lực thông qua thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư. Nhưng cần nhấn mạnh rằng chất lượng của quy hoạch phụ thuộc vào trình độ, khả năng dự báo của đơn vị tư vấn và cơ quan quản lý, trong khi thực tiễn luôn thay đổi chóng mặt, dẫn đến quy hoạch phải liên tục điều chỉnh. Như vậy, “bản kế hoạch” thực hiện quy hoạch như trên cũng không thể bám sát thực tiễn, sẽ luôn phải điều chỉnh, sửa đổi. Nên kỳ vọng vào điều đó là bất khả thi trong giai đoạn này.

P.S 2: Về các ngành nghề cấm đầu tư kinh doanh, các ngành nghề kinh doanh có điều kiện, ông Dũng có nêu ý kiến, tôi xin phản biện như sau:

(i) Về ngành nghề cấm đầu tư kinh doanh: ông Dũng kiến nghị nên đưa vào Luật Doanh nghiệp. Ô hay, nếu người ta tính kinh doanh ngành nghề bị cấm (buôn ma túy, buôn bán bộ phận cơ thể người…) thì chẳng nhẽ người ta lại tính thành lập doanh nghiệp để kinh doanh chăng, để mà đi đọc Luật Doanh nghiệp?

(ii) Về ngành nghề cấm đầu tư kinh doanh: cần lưu ý khoản 2 Điều 14 Hiến pháp. Việc hạn chế quyền tự do kinh doanh là biện pháp hạn chế quyền con người, quyền công dân, chỉ có thể quy định trong luật. Việc quy định tập trung trong 1 đạo luật là Luật Đầu tư là cần thiết để dễ tra cứu (chỉ có ý nghĩa tra cứu), còn điều kiện kinh doanh cụ thể tương ứng từng ngành nghề sẽ do từng luật chuyên ngành quy định. Vậy Luật Đầu tư gây cản trở gì ở đây?

Nếu có cản trở thì đó là sự cản trở của pháp luật chuyên ngành. Ngành nào cần cho phép tự do kinh doanh, không cần điều kiện thì cần kiến nghị để cơ quan quản lý xem xét bãi bỏ điều kiện kinh doanh trong pháp luật chuyên ngành, đồng thời sửa tương ứng trong Luật Đầu tư để bỏ ra khỏi checklist. Như vậy là xong. 🙂

Luật sư Nguyễn Văn Đỉnh