Hôm nay, sau khi Quốc hội biểu quyết thông qua Nghị quyết về việc thí điểm thực hiện chế định luật sư công, tôi mới có thời gian nghiên cứu dự thảo (final) của Nghị quyết cùng các hồ sơ, tài liệu trong hồ sơ xây dựng Nghị quyết; đồng thời nghiên cứu mô hình tương tự của các quốc gia khác.
Tôi đặc biệt quan tâm đến mô hình của người hàng xóm phương Bắc – với hệ thống luật sư công (公职律师 – Gongzhi Lüshi) và mô hình của Mỹ – với hệ thống “Public Lawyer” chia thành 2 nhánh: “Public Defender” (Luật sư công ích) – chuyên lĩnh vực hình sự, trường hợp người bị buộc tội không có khả năng thuê luật sư thì Nhà nước cử luật sư công bảo vệ (giống trường hợp chỉ định người bào chữa ở ta); Government Attorneys (Luật sư Chính phủ): đóng vai trò đại diện cho Nhà nước trong các vụ kiện dân sự, hành chính và tranh chấp quốc tế.

Hai mô hình của Mỹ, Trung là gần nhất với định hướng luật sư công mà Việt Nam sẽ thí điểm từ ngày 01/10 tới. Ngoài ra, các quốc gia phát triển như Pháp, Singapore, Nhật… cũng có mô hình luật sư làm việc cho các cơ quan công quyền. Đặc điểm chung là “luật sư công” tại các quốc gia này có địa vị pháp lý độc lập tương đối, được bảo lưu ý kiến pháp lý và từ chối thực hiện các chỉ đạo trái pháp luật.
Đọc Tờ trình của Chính phủ, dự thảo Nghị quyết, báo cáo thẩm tra và báo cáo tiếp thu giải trình ý kiến của đại biểu Quốc hội đối với dự thảo Nghị quyết thì có thể thấy đây là một đề án được xây dựng bài bản, nghiêm túc (một số anh chị em có ý kiến bỉ bôi trên mạng xã hội, theo tôi nên nghiên cứu thật kỹ hồ sơ xây dựng Nghị quyết trước khi phát biểu).
Theo dự thảo, luật sư công là “chủ thể công” (là cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan quân đội/công an, người làm việc trong doanh nghiệp nhà nước) tại 8 bộ, 10 địa phương “trọng yếu”, được cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư để thực hiện các công việc có tính chất pháp lý nhằm bảo vệ quyền lợi của các cơ quan nhà nước, doanh nghiệp nhà nước…
Phạm vi công việc của luật sư công được khu biệt tương đối rõ ràng: Tư vấn, đại diện, tham gia tố tụng, giải quyết các vụ kiện, tranh chấp trong nước và quốc tế về đầu tư, thương mại, công pháp quốc tế, tư pháp quốc tế, hành chính, dân sự; tham gia quá trình thi hành án dân sự, hành chính; Tư vấn pháp lý trong quá trình xây dựng, triển khai các dự án kinh tế – xã hội; Tư vấn và tham gia giải quyết các vụ, việc khiếu nại, tố cáo phức tạp; Các công việc có tính chất pháp lý khác…
Về tiêu chuẩn của luật sư công, Nghị quyết quy định người muốn trở thành luật sư công phải có đủ tiêu chuẩn luật sư theo quy định của Luật Luật sư (đây là yếu tố mấu chốt, vô cùng quan trọng); phải có ít nhất 05 năm kinh nghiệm làm việc thường xuyên, trực tiếp trong lĩnh vực pháp luật hoặc kinh nghiệm tranh tụng, tư vấn pháp luật hoặc giải quyết vụ, việc pháp lý phức tạp theo quy định của Chính phủ.
Như vậy, về bản chất “luật sư công” không hề thua kém “luật sư (tư)” về mặt tiêu chuẩn. Cụ thể, tiêu chuẩn luật sư hiện quy định tại Điều 10 Luật Luật sư với các tiêu chuẩn chính: có bằng cử nhân luật, đã được đào tạo nghề luật sư, đã qua thời gian tập sự hành nghề luật sư… Tại Điều 11 Luật Luật sư quy định điều kiện hành nghề luật sư là phải có Chứng chỉ hành nghề luật sư và gia nhập một Đoàn luật sư.
Hoàn toàn tương tự, Nghị quyết thí điểm luật sư công cũng quy định người muốn trở thành luật sư công cũng phải đáp ứng tiêu chuẩn, điều kiện y hệt; cũng phải tham gia tập sự hành nghề luật sư, phải vượt qua kỳ kiểm tra kết quả tập sự hành nghề luật sư (Chính phủ sẽ ban hành quy định chi tiết về tập sự, kiểm tra… để áp dụng cho luật sư công). Người muốn trở thành luật sư công cũng phải được cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư (thẩm quyền do Bộ trưởng Bộ Tư pháp cấp).
Trong hoạt động nghề nghiệp, luật sư công cũng phải tuân thủ quy định của Luật Luật sư, Điều lệ Liên đoàn luật sư Việt Nam, Bộ Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam và quy định khác của pháp luật có liên quan, y hệt như luật sư (tư). Họ cũng phải tham gia tổ chức xã hội – nghề nghiệp của luật sư (Đoàn luật sư, Liên đoàn luật sư) và đáp ứng đầy đủ điều kiện, thủ tục gia nhập, duy trì tư cách thành viên (chỉ khác là được Nhà nước chi trả các khoản phí liên quan thay vì bỏ tiền túi như luật sư (tư)).
Một cách tổng quát, có thể nhận định rằng: Luật sư (tư) có gì thì luật sư công cũng có cái đó, không hề thua kém. Thậm chí, luật sư công còn có điều kiện chặt chẽ hơn: phải có ít nhất 05 năm kinh nghiệm làm việc thường xuyên, trực tiếp trong lĩnh vực pháp luật hoặc kinh nghiệm tranh tụng, tư vấn pháp luật hoặc giải quyết vụ, việc pháp lý phức tạp.
Trong khi đó, Luật Luật sư không hề quy định về kinh nghiệm thực chiến đối với luật sư (tư) và về lý thuyết, một bạn trẻ có 4 năm học đại học ngành luật để lấy bằng cử nhân + khoảng 1,5 năm đào tạo tại Học viện Tư pháp + 1 năm tập sự + khoảng 0,5 năm tham gia kỳ kiểm tra kết quả tập sự, cấp Chứng chỉ hành nghề, cấp thẻ luật sư và gia nhập một Đoàn luật sư là có thể hành nghề luật sư (tư).
Không những vậy, luật sư công còn phải đáp ứng các điều kiện khác theo pháp luật quản lý cán bộ, công chức…
Sau khi nghiên cứu kỹ mô hình luật sư công thì tôi thấy đây là một mô hình thú vị. Phạm vi thí điểm của mô hình này là 02 năm, bắt đầu tư ngày 01/10 tới và các luật sư (tư) hãy cùng theo dõi các “đồng nghiệp mới” này hoạt động, làm việc, sau 2 năm thì hãy đánh giá cũng chưa muộn. Ta nên đề cao tinh thần “nhân tài trọng nhân tài” để cùng nhau phát triển.
Tuy nhiên, vẫn còn 2 điều mà tôi còn băn khoăn, lấn cấn về mô hình luật sư công này.
Thứ nhất, tôi vẫn lăn tăn về tính khả thi, phù hợp với thực tiễn. Liệu có bao nhiêu người lao động đang làm việc trong bộ máy nhà nước đáp ứng được tiêu chuẩn, điều kiện rất chặt chẽ theo Nghị quyết? Tôi hi vọng Nhà nước sẽ không “giảm bớt” tiêu chuẩn, điều kiện rất chặt chẽ này để có cơ hội được tiếp xúc, làm việc, học hỏi từ một nhóm các “đồng nghiệp mới” là những luật sư công xuất sắc.
Thứ hai, tôi vẫn lăn tăn về việc cấp “Chứng chỉ hành nghề luật sư” cho cho luật sư công. Bởi hiện nay, các luật sư (tư) như chúng tôi được cấp “Chứng chỉ hành nghề luật sư” theo Luật Luật sư và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành. Thẩm quyền cấp “Chứng chỉ hành nghề luật sư” cho luật sư (tư) là của Chủ tịch UBND cấp tỉnh theo phân quyền tại Nghị định số 121/2025/NĐ-CP.
Còn theo Nghị quyết thí điểm về luật sư công thì luật sư công cũng được cấp “Chứng chỉ hành nghề luật sư” và hành lang pháp lý để cấp không phải là Luật Luật sư mà là theo Nghị quyết thí điểm về luật sư công và theo quy định của Chính phủ (được hiểu là Chính phủ sẽ ban hành thêm Nghị định để quy định thủ tục cấp, cấp lại, thu hồi Chứng chỉ hành nghề luật sư cho luật sư công).
Cùng có tên là “Chứng chỉ hành nghề luật sư” nhưng được cấp cho 2 nhóm chủ thể khác nhau, thực hiện theo 2 hành lang pháp lý riêng biệt, với thẩm quyền khác nhau (Chủ tịch UBND cấp tỉnh cấp chứng chỉ cho các luật sư (tư) còn Bộ trưởng Bộ Tư pháp cấp chứng chỉ cho các luật sư công). Như vậy có hợp lý không? Đặc biệt, biểu mẫu (phôi) của “Chứng chỉ hành nghề luật sư” có giống luật sư (tư) hay không?
Sẽ là hợp lý hơn nếu Nghị quyết sử dụng thuật ngữ “Chứng chỉ hành nghề luật sư CÔNG”, như vậy 2 nhóm chủ thể sẽ sử dụng 2 loại chứng chỉ hành nghề riêng biệt, có form mẫu riêng biệt và hoạt động riêng biệt, trong nghề nghiệp không “trùng giẫm” lên nhau.
Luật sư công: góc tiếp cận từ bản chất
Phần 1: “Luật sư công, anh là ai?” bỗng dưng viral với nhiều đồng nghiệp tham gia bàn luận, có người chia sẻ, đồng cảm, nhưng vẫn có những ý kiến phân tích phản biện, chia sẻ tâm tư… Nên tôi chia sẻ thêm về quá trình viết bài viết trên, chia sẻ về một quá trình thay đổi nhận thức về một vấn đề pháp lý, và chỉ ra tại sao đề án “Luật sư công” lại là có lý.
Chủ đề “luật sư công” quá hot, tôi đã đọc khá nhiều ý kiến của các anh em luật sư, luật gia… thời gian qua và thú thực đôi khi cũng thả một vài comment khá vội vã (khi chưa đọc hồ sơ xây dựng Nghị quyết mà chỉ đọc một vài “phân đoạn” được báo chí dẫn lại). Sau khi đề án “Luật sư công” được thông qua thì các ý kiến bàn luận lại rộ lên, nên tôi quyết định sẽ viết.
Và khác với những comment vội vã, tôi dành thời gian nghiên cứu toàn bộ hồ sơ, quá trình xây dựng dự thảo Nghị quyết thí điểm thực hiện chế định luật sư công, từ những bản trình đầu tiên do Bộ Tư pháp soạn cho đến quá trình trình ra Quốc hội, các báo cáo thẩm tra, các bản tổng hợp thảo luận của Đại biểu Quốc hội tại tổ và tại hội trường, báo cáo tiếp thu giải trình của Chính phủ.
Phải thú thực rằng tôi bắt tay vào nghiên cứu hồ sơ với tâm thế phản biện. Tôi dự tính viết một bài phản biện chính sách như bao lần khác, với lòng tự ái nghề nghiệp và cái tôi to đùng (như bao đồng nghiệp – những luật sư (tư) khác). Nhưng đọc hồ sơ “dự án Nghị quyết” thì tôi bắt đầu tìm thấy những điều hợp lý. Tôi dừng lại khoảng 5 phút để ngẫm nghĩ xem mình có nên thay đổi cách tiếp cận không, có phải mình đã hơi “bồng bột” không?
Nếu tiếp cận từ bản chất và đặt mình vào vị trí của người khác, bạn sẽ thấy đề án này… cũng có lý.
Bạn sẽ thấy rằng Nhà nước đã, đang và sẽ tham gia vào rất nhiều mối quan hệ có mức độ phức tạp cao, đa dạng và luôn phát sinh tranh chấp, kiện tụng (cả trong nước và quốc tế) về dân sự, hành chính, đầu tư, thương mại, đặc biệt khi triển khai các dự án lớn liên quan đến nhà đầu tư trong và ngoài nước (do trình độ chuyên môn của cán bộ, khi thi hành công vụ qua các thời kỳ đôi khi ban hành những quyết định trái pháp luật, hoặc dự án bị thanh kiểm tra phát hiện vi phạm dẫn đến bị ngưng trệ…)
Và đó là một thực tại khách quan mà Nhà nước phải đối mặt, giải quyết, không thể phủ nhận đi được. Nhưng cán bộ, công chức nhà nước thì không đủ người và không đủ chuyên môn, nghiệp vụ để giải quyết tất cả núi việc có tính chất “dọn dẹp” ấy. Cán bộ, công chức nhà nước có đặc điểm là thường chuyên sâu trong một vài lĩnh vực chuyên môn, ví dụ như kỹ thuật, công nghệ, khoa học, môi trường… nhưng không đủ am hiểu về pháp luật, đặc biệt là về quy trình tố tụng, các trình tự, thủ tục…
Ngoài ra, lực lượng cán bộ, công chức nhìn chung không đủ dày và đủ “tinh” để vừa giải quyết công việc chuyên môn phát sinh hàng ngày, vừa giải quyết “dọn dẹp”. Nếu cán bộ lãnh đạo ủy quyền cho cấp dưới tham gia thì không thực tế, trong khi cán bộ lãnh đạo như Chủ tịch ủy ban, Giám đốc Sở thì quá bận việc để tham gia tố tụng, giải quyết các vụ, việc, dẫn đến nhiều vụ án hành chính kéo dài, gây mất ổn định xã hội và không bảo đảm quyền lợi cho người dân.
Để giải quyết, Nhà nước tất nhiên sẽ có nhu cầu sử dụng các dịch vụ pháp lý, nên Nhà nước có nhu cầu thuê luật sư. Từ trước đến nay, Nhà nước vẫn sử dụng dịch vụ tư vấn pháp lý nhưng có nhược điểm là tính bảo mật không cao, trong khi nhiều vụ, việc cần phải bảo đảm bí mật công vụ (đôi khi còn liên quan đến bảo vệ bí mật nhà nước). Đặc biệt là khâu lựa chọn tư vấn theo pháp luật đấu thầu rất nhiêu khê, do liên quan việc sử dụng ngân sách nhà nước chi trả.
Một nhược điểm khác của việc thuê luật sư thông qua quan hệ hợp đồng là sẽ dẫn đến kinh phí tăng cao vượt quá các “định mức”, “dự toán” theo quy định nội bộ và kinh phí cũng không đồng đều do lệ thuộc vào các đơn vị cung cấp dịch vụ pháp lý chào giá. Đương nhiên, sẽ luôn có tình trạng: đơn vị chào giá thấp, phù hợp khả năng chi trả thì chuyên môn có thể không đáp ứng, ngược lại đơn vị có chuyên môn cao thì chào phí vượt quá “khung” của Nhà nước có thể chi.
Do đó, tất yếu nhà nước sẽ có nhu cầu sử dụng một bộ máy luật sư công để vừa bảo đảm tính bảo mật (đây là quan hệ điều động, bố trí công việc thay thế cho quan hệ hợp đồng), ngoài ra kinh phí cũng không bị tăng cao (Nhà nước chỉ phải chi trả các khoản phụ cấp, “bồi dưỡng” cho luật sư công).
Hãy nhìn vào bản chất vấn đề: Nhà nước mong muốn có trong tay một đội ngũ giống như các luật sư mà Nhà nước vẫn thuê bên ngoài thị trường, có chuyên môn, nghiệp vụ, trình độ, am hiểu pháp luật, am hiểu quy trình tố tụng… để giải quyết các vụ, việc hành chính, dân sự, thương mại… xuyên suốt từ đầu cho đến khâu thi hành án nhưng phải là cán bộ, công chức (các chủ thể “công”) để Nhà nước có thể điều động công việc một cách linh hoạt, vào bất kỳ lúc nào).
Do đó, tất lẽ dĩ ngẫu thì luật sư công sẽ ra đời (như bài viết trước tôi đã phân tích mô hình tại các quốc gia, điển hình là Mỹ và Trung Quốc; Việt Nam chỉ học hỏi có chọn lọc từ các quốc gia chứ không sáng tạo ra “luật sư công”).
Một số ý kiến phản biện đang tập trung vào “bắt bẻ” các câu chữ của Luật Luật sư, soi chiếu vào Nghị quyết về thí điểm luật sư công. Theo tôi, thay vì nhìn vào các “tiểu tiết” ấy, ta hãy nhìn vào bản chất. Yếu tố quan trọng nhất: Nhà nước cần “thâu tóm” một lực lượng “luật sư” giống như các luật sư hành nghề trong tổ chức hành nghề luật sư nhưng Nhà nước có thể chủ động điều động, bố trí công việc được. Và Nhà nước là chủ thể ban hành chính sách, pháp luật nên hoàn toàn có thể sửa đổi các văn bản pháp luật liên quan, bao gồm Luật Luật sư để khắc phục các điểm “xung đột pháp luật” (thực tế, Luật Luật sư đang trong lộ trình sửa).
Do vậy, ta nên tiếp cận vấn đề từ bản chất (nội dung); còn về hình thức thì có thể sửa được bằng cách ban hành luật mới hoặc sửa đổi pháp luật.
Trong phần 1 bài viết, có một comment rất thú vị, sâu sắc: Nhà nước dùng ngân sách chi trả cho “luật sư công” để bảo vệ quyền lợi của Nhà nước trong các tranh chấp với người dân có hợp lý không khi người dân là người đóng thuế, tạo nguồn thu ngân sách?
Câu hỏi này có lẽ rất thú vị dưới góc độ nghiên cứu xã hội học, chính sách công… Với hiểu biết hạn hẹp của mình, tôi cho rằng câu hỏi này được đặt trong giả định: “trong một tranh chấp thì chỉ có một bên thắng và bên còn lại sẽ thua” – đây là tư duy áp dụng cho các tranh chấp thông thường, điển hình là tranh chấp dân sự.
Với các tranh chấp mà có một bên là Nhà nước, tại sao chúng ta không nghĩ rằng tranh chấp có thể có cả hai bên cùng thắng?
Một tranh chấp kéo dài, một vụ kiện hành chính đi qua nhiều năm không giải quyết thì cả hai bên đều thiệt hại. Chẳng hạn, do thiếu nhân lực nên Nhà nước không tham gia tố tụng hoặc tham gia một cách đối phó, hời hợt, dẫn tới vụ án kéo dài và người dân mỏi mòn chờ đợi thì chưa cần biết kết quả giải quyết tranh chấp sau đó thế nào, người dân đương nhiên là chịu phần thua thiệt (kể cả khi được tòa xử thắng kiện).
Nhưng ngược lại, sự tham gia của “luật sư công” sẽ giúp giải quyết tranh chấp nhanh hơn. Luật sư công sẽ có những khuyến cáo đối với cán bộ, cơ quan nhà nước, ví dụ: quyết định hành chính này có đúng không. Nếu quyết định hành chính ban hành sai thì trong quá trình giải quyết tranh chấp, luật sư công sẽ tham mưu để người có thẩm quyền chủ động điều chỉnh, sửa đổi, bãi bỏ quyết định hành chính trái pháp luật. Như vậy, thông qua quá trình đối thoại thì cả hai bên đều thắng, tiết kiệm thời gian, tránh vụ án bị “treo” quá lâu như hiện nay, từ đó bảo vệ quyền lợi cho người dân.
Ngược lại, nếu quyết định hành chính được ban hành đúng pháp luật thì luật sư công sẽ thu thập đủ hồ sơ, tài liệu để giao nộp cho tòa án, từ đó rút ngắn quá trình giải quyết vụ án, tránh cho người dân phải “thiệt đơn, thiệt kép”: phải theo đuổi vụ việc nhiều năm, hao tổn sức khỏe, tinh thần, tiền bạc mà cuối cùng vẫn thua kiện.
Trường hợp này, luật sư công không phải là “đối thủ” của người dân (như quan điểm ta vẫn thường thấy về 2 luật sư đại diện cho 2 bên nguyên đơn – bị đơn tại phiên tòa), mà là chất xúc tác để guồng quay tư pháp vận hành nhanh hơn. Theo tôi, đây là câu trả lời tham khảo cho câu hỏi rất khó: Có phải luật sư công tiêu tiền ngân sách do dân đóng góp để ra tòa chống lại người dân?
Với các đồng nghiệp đang tâm tư vì “luật sư công”, tôi cho rằng luật sư công không đến để “giành bát cơm”, mà là để giải quyết những việc khó, khổ, nhạy cảm của khu vực nhà nước mà luật sư tư đa số sẽ chê (vì việc thì vất vả, nhạy cảm mà thù lao không tương xứng).
Dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về thực hiện thí điểm chế định luật sư công, bản trình Quốc hội thông qua: https://drive.google.com/file/d/1IOvxjQu_7W-meeXR7_4KsARpu6Xb9OJK
Hồ sơ xây dựng Nghị quyết của Quốc hội về thực hiện thí điểm chế định luật sư công: https://drive.google.com/drive/folders/1dESsMmDAOC21p-DxqrxBXaTbFVa2lE3o
Ngày 24 và 25 tháng 4/2026
Luật sư Nguyễn Văn Đỉnh