Khái niệm “ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh” trong Luật Đầu tư Luật Đầu tư kinh doanh đã liên tục được quy định trong Luật Đầu tư qua các thời kỳ (Điều 6 Luật Đầu tư năm 2014, Điều 6 Luật Đầu tư năm 2020 và hiện tiếp tục quy định tại Điều 6 dự thảo Luật Đầu tư kinh doanh).

Hơn 5 năm trước, giai đoạn cuối năm 2019, đầu năm 2020, khi Bộ KHĐT xây dựng Luật Đầu tư 2020, tôi đã gửi kiến nghị đến Cổng dịch vụ công quốc gia cũng như Bộ KHĐT để kiến nghị về nội dung này. Tôi cho rằng quy định về “ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh” là không hợp lý. Thời điểm đó, Bộ KHĐT phúc đáp kiến nghị của tôi bằng văn bản và không tiếp thu (lý do có lẽ bởi tại thời điểm Bộ trả lời, Luật Đầu tư năm 2020 đã được Quốc hội biểu quyết thông qua trước đó một tháng).
Nay, Bộ Tài chính (kế thừa chức năng, nhiệm vụ của Bộ KHĐT) tiếp tục nghiên cứu xây dựng Luật Đầu tư kinh doanh, dự kiến trình ra Quốc hội xem xét thông qua vào cuối năm nay, thay thế cho Luật Đầu tư năm 2020. Tôi cho rằng đây là thời điểm thích hợp để xem xét lại khái niệm “ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh” để có phương án sửa đổi cho hợp lý, thuyết phục.
Trên cơ sở kiến nghị bằng văn bản gửi Bộ KHĐT 5 năm trước, tôi xin trình bày lại lập luận, quan điểm của mình về sự bất hợp lý của khái niệm “ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh” tại Điều 6 Luật Đầu tư năm 2020 và Điều 6 dự thảo Luật Đầu tư kinh doanh như sau:
1. Khái niệm “ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh” tự mâu thuẫn, bất hợp lý
Tới thời điểm này tôi vẫn bảo lưu quan điểm rằng khái niệm/thuật ngữ “ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh” cần phải sửa. Bởi nếu đã cấm một hoạt động kinh doanh thì không nên gọi đó là “Ngành, nghề”, và nếu đã coi hoạt động đó là “Ngành, nghề” thì tại sao lại cấm kinh doanh?
Theo Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học thì “Ngành” là “Lĩnh vực hoạt động về chuyên môn, khoa học, văn hóa, kinh tế”. “Ngành nghề” là “Nghề nghiệp chuyên môn (nói khái quát)”. “Nghề” là “Công việc chuyên làm theo sự phân công lao động của xã hội”.
Như vậy đã nói tới “Ngành, nghề” hay “Ngành nghề” là nói về mặt nghề nghiệp chuyên môn, phải có người hoạt động trong nghề nghiệp chuyên môn, lĩnh vực chuyên môn ấy mới gọi là “Ngành, nghề” hay “Ngành nghề”. Và đã thừa nhận một công việc nào đó là “Ngành, nghề” hay “Ngành nghề” thì không thể cấm tổ chức, cá nhân hoạt động trong công việc, lĩnh vực ấy.
Mặt khác tên của điều luật là “Ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh” nhưng trong nội dung của điều luật lại viết là “Cấm các hoạt động đầu tư kinh doanh”. Vậy tại sao không đặt tên cho điều luật là “Các hoạt động cấm đầu tư kinh doanh” hay “Hoạt động cấm đầu tư kinh doanh” cho thống nhất?
Xin lưu ý, những bất cập tôi đã chỉ ra tại Điều 6 Luật Đầu tư năm 2020 tiếp tục được quy định tại Điều 6 dự thảo Luật Đầu tư kinh doanh.
2. Băn khoăn khi cấm kinh doanh dịch vụ đòi nợ
Điều 6 Luật Đầu tư 2020 bổ sung thêm “Kinh doanh dịch vụ đòi nợ” là ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh (và tiếp tục quy định trong Điều 6 dự thảo Luật Đầu tư kinh doanh).
Theo quan điểm của tôi, dịch vụ đòi nợ hình thành là do nhu cầu của thực tiễn cuộc sống. Nói như nhà triết học Hegel: “Cái gì tồn tại thì hợp lý, cái gì hợp lý thì tồn tại”. Nếu thực tiễn cuộc sống mà các quan hệ dân sự đòi hỏi cần thiết phải có một dịch vụ trung gian để giúp chủ nợ thu hồi nợ thì tại sao nhà làm luật lại đặt ra quy phạm cấm đoán cho nó? Anh cấm mà thực tiễn vẫn cần, con người vẫn có nhu cầu thì dịch vụ sẽ vẫn xuất hiện dưới những hình hài khác, lúc này là phi pháp, mà các cơ quan quản lý càng khó quản hơn.
Giữa một anh có nợ mà không thể đòi, và một anh không có nợ nhưng có thể đi đòi hộ bằng các phương pháp của mình, 2 anh ấy dĩ nhiên sẽ bắt tay nhau, tạo thành một quan hệ xã hội. Pháp luật bản chất là công cụ do Nhà nước đặt ra/thừa nhận để điều chỉnh các quan hệ xã hội. Nhà làm luật có công nhận hay không thì quan hệ xã hội ấy bản thân nó vẫn nảy sinh và tồn tại. Nhà làm luật có thể quy định dịch vụ đòi nợ thuê để đặt ra các quy phạm điều chỉnh quan hệ xã hội ấy theo mục đích, định hướng của mình, hoặc là lờ nó đi, cứ để quan hệ xã hội diễn ra tự nhiên, “ngoài vòng pháp luật”.
Bây giờ thì nhà làm luật lại đặt ra quy phạm cấm đoán cho dịch vụ đòi nợ thuê. Anh cấm nó diễn ra, thì tất yếu nó sẽ biến tướng thành các hình thức khác, chẳng hạn thành hình thức “ủy quyền đòi nợ có thù lao”, khi đó không cần đăng ký kinh doanh và không phải chịu nghĩa vụ thuế.
Từ thế kỷ 18, 19, Hegel đã tin rằng cái gì tồn tại thì dứt khoát nó phải hợp lý và cái gì hợp lý thì sẽ tồn tại mà không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của con người.
Hiện nay, Đảng và Nhà nước chủ trương từ bỏ tư duy “cái gì không quản được thì cấm”, nên cần nghiên cứu sửa đổi Luật Đầu tư để loại bỏ việc cấm kinh doanh dịch vụ đòi nợ và bổ sung nó vào danh mục “Ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện”.
Hà Nội, ngày 12/9/2025
Luật sư Nguyễn Văn Đỉnh