* Tính đến ngày 12/9/2026, phiên tòa xét xử phúc thẩm vẫn chưa có phán quyết cuối cùng. Bài viết này chỉ phân tích các vấn đề pháp lý một cách ngắn gọn, không kết luận thay Tòa án.
Bài viết phân tích đầy đủ: Bãi bỏ quy định dùng buộc tội hiệu trưởng “thu sai tiền dạy thêm”: Hiểu sao cho đúng
1. Hà Nội có thẩm quyền ban hành Quyết định 22/2013, trong đó giới hạn mức thu tiền học thêm hay không?
Đáp: Hà Nội có thẩm quyền ban hành văn bản quản lý hoạt động dạy thêm, học thêm.

Ở thời điểm năm 2013, Điều 2 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân số 31/2004/QH11 cho phép UBND ban hành văn bản:
– “Để thi hành Hiến pháp, luật, văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên…”;
– “Để thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương…”;
– Khi “văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên giao cho UBND quy định một vấn đề cụ thể”.
Điều 13 của Luật này còn xác định giáo dục và đào tạo thuộc lĩnh vực UBND cấp tỉnh được ban hành quyết định để thực hiện các biện pháp quản lý.
Khoản 8 Điều 6 Nghị định 115/2010/NĐ-CP giao UBND cấp tỉnh quản lý, kiểm tra việc thu, chi học phí, lệ phí và các khoản thu hợp pháp khác tại các cơ sở giáo dục thuộc phạm vi quản lý.
Đặc biệt, khoản 2 Điều 15 Thông tư 17/2012/TT-BGDĐT về dạy thêm, học thêm yêu cầu UBND cấp tỉnh ban hành quy định về dạy thêm, học thêm, trong đó có nội dung: “Việc thu, quản lý và sử dụng tiền học thêm.”
Hiện nay, Điều 21 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 tiếp tục cho phép UBND cấp tỉnh ban hành quyết định để quy định chi tiết nội dung được giao; quy định biện pháp thi hành văn bản của cấp trên và biện pháp thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương.
Việc Hà Nội có được quy định mức trần tiền học thêm hay không là vấn đề đang có hai cách giải thích.
Điểm tranh luận nằm ở chỗ: điểm b khoản 1 Điều 7 Thông tư 17 quy định mức thu do cha mẹ học sinh và nhà trường thỏa thuận, trong khi Quyết định 22 vừa yêu cầu thỏa thuận bằng văn bản, vừa đặt mức tối đa.
Theo quan điểm của tôi, hai quy định này có thể được thực hiện đồng thời: các bên vẫn được thỏa thuận nhưng không vượt quá mức trần. Việc Quyết định 22 của Hà Nội quy định mức trần tiền học thêm phù hợp với thẩm quyền ban hành văn bản để thi hành luật, văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên và để thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương.
Tuy nhiên, Kết luận số 01 của Cục Kiểm tra văn bản và Tổ chức thi hành pháp luật có cách giải thích ngược lại.
Lưu ý: Kết luận số 01 do Cục ban hành, không phải kết luận của Bộ Tư pháp.
2. Việc Hà Nội giới hạn mức thu tối đa có ý nghĩa gì?
Đáp: Mức trần nhằm:
– Bảo vệ gia đình có thu nhập trung bình, thấp và duy trì khả năng tiếp cận giáo dục;
– Hạn chế lạm thu và sự bất cân xứng giữa nhà trường với phụ huynh;
– Tránh việc trường “điểm” hoặc trường ở khu vực trung tâm đẩy mức thu lên quá cao;
– Tạo căn cứ thống nhất để cơ quan giáo dục thanh tra, kiểm tra;
– Minh bạch hóa việc phân chia tiền thu được.
Cần gọi đúng tên đây là “tiền học thêm” theo Thông tư 17 – là một khoản thu có tính chất bù đắp cho công sức làm thêm giờ của giáo viên, bộ phận quản lý, phục vụ cũng như cơ sở vật chất; không nên đồng nhất với “học phí” hoặc “giá dịch vụ” vận hành theo cơ chế thị trường.
Điều 12 Quyết định 22 quy định cách sử dụng khoản thu từ tiền học thêm: 70% trả giáo viên trực tiếp giảng dạy; 15% chi quản lý; 15% hỗ trợ điện, nước, vệ sinh và sửa chữa cơ sở vật chất.
3. Ngoài Hà Nội, các địa phương khi đó quy định như thế nào?
Đáp: Thực tiễn không thống nhất và Hà Nội không phải địa phương duy nhất đặt mức trần. Chẳng hạn:
– Tây Ninh (Quyết định số 02/2013/QĐ-UBND) có quy định mức tối đa đối với dạy thêm trong trường công lập, trong đó THCS và THPT không quá 80.000 đồng/tháng/học sinh/môn;
– Ninh Bình (Quyết định số 21/2012/QĐ-UBND) có quy định mức thu tối đa theo tiết/lớp;
– Lạng Sơn (Quyết định số 05/2013/QĐ-UBND) lại chủ yếu áp dụng cơ chế nhà trường thỏa thuận với cha mẹ học sinh.
Thực tiễn của các địa phương không tự động chứng minh Quyết định 22 của Hà Nội hợp pháp. Tuy nhiên, nó cho thấy Thông tư 17 từng được các địa phương giải thích theo những cách khác nhau; do đó, không thể coi cách hiểu “Thông tư 17 tuyệt đối cấm địa phương quy định mức trần” là cách hiểu duy nhất và hiển nhiên.
4. Ai phải thi hành Quyết định 22? Hiệu trưởng Nguyễn Thị Bình có thuộc đối tượng phải thi hành không?
Đáp: Có.
Điều 2 Quyết định 22 áp dụng đối với người dạy thêm, người học thêm, tổ chức, cá nhân tổ chức hoặc có liên quan đến dạy thêm, học thêm. Điều 7 quy định trực tiếp trách nhiệm của hiệu trưởng; Điều 19 Thông tư 17 cũng giao hiệu trưởng tổ chức, quản lý, kiểm tra hoạt động dạy thêm trong trường.
Bà Bình là Hiệu trưởng Trường THCS Ba Đình trong thời gian xảy ra sự việc. Vì vậy, dù được xác định là công chức hay viên chức quản lý, bà vẫn là chủ thể trực tiếp phải thực hiện các quy định về tổ chức, thu, chi và quản lý tiền học thêm.
5. Nếu cho rằng Quyết định 22 trái Thông tư 17 thì người thi hành có được tự ý bỏ qua không?
Đáp: Không thể trả lời đơn giản rằng văn bản “còn hiệu lực thì phải thi hành bằng mọi giá”, nhưng người thi hành cũng không có quyền tự tuyên bố Quyết định 22 vô hiệu hoặc tự ý coi văn bản này không tồn tại.
Điều 83 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 — áp dụng tại thời điểm xảy ra sự việc — và Điều 58 Luật năm 2025 đều quy định: nếu các văn bản có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn.
Tuy nhiên, phải có xung đột thực sự, chứ không chỉ là cách hiểu chủ quan. Nếu vẫn có thể đồng thời tuân thủ cả hai văn bản — thỏa thuận nhưng không vượt mức trần — thì không thể tự ý gạt bỏ Quyết định 22.
Hơn nữa, cần nhấn mạnh rằng tại thời điểm năm 2013 – 2014 thì tồn tại song song Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 (áp dụng cho các văn bản của cơ quan trung ương ban hành) và Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân số 31/2004/QH11 (áp dụng cho các văn bản của chính quyền địa phương ban hành), chứ chưa thống nhất chung trong một luật duy nhất quy định về ban hành văn bản quy phạm pháp luật như hiện nay.
Do đó, thời điểm năm 2013 – 2014 thì chưa có quy định minh thị về thứ bậc giữa Thông tư số 17 của Bộ GD&ĐT với Quyết định 22 của UBND thành phố Hà Nội.
Đối với công chức, khoản 5 Điều 9 Luật Cán bộ, công chức năm 2008 và khoản 5 Điều 7 Luật Cán bộ, công chức năm 2025 hiện hành đều đặt ra cơ chế: khi cho rằng quyết định của cấp trên trái pháp luật thì phải báo cáo bằng văn bản; nếu người ra quyết định vẫn yêu cầu thi hành thì tiếp tục chấp hành và báo cáo cấp trên trực tiếp.
Đối với viên chức, khoản 6 Điều 11 Luật Viên chức năm 2010 và khoản 6 Điều 11 Luật Viên chức năm 2025 (hiện hành) ghi nhận quyền từ chối công việc hoặc nhiệm vụ trái pháp luật.
Các quy định trên trực tiếp điều chỉnh việc chấp hành quyết định hoặc nhiệm vụ do cấp trên giao, chứ không phải là cơ chế duy nhất để giải quyết xung đột giữa hai văn bản quy phạm pháp luật.
Vì vậy, nếu cho rằng mức trần của Quyết định 22 trái Thông tư 17, người thi hành phải chỉ ra xung đột, báo cáo và kiến nghị cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, xử lý hoặc hướng dẫn áp dụng. Không thể âm thầm đặt ra một mức thu khác mà không thực hiện đúng trình tự quản lý.
Nếu là đảng viên, tại thời điểm năm 2013 còn phải tuân thủ Quy định 47-QĐ/TW năm 2011; hiện nay là Điều 1 Quy định 207-QĐ/TW năm 2026: cấm nói, viết, làm trái hoặc không thực hiện pháp luật của Nhà nước.
Do đó, pháp luật và quy định của Đảng đều không cho phép một người tự ý đánh giá tính pháp lý của một văn bản, cho rằng văn bản đó trái pháp luật và tự ý không thi hành.
6. Hậu quả pháp lý của việc không chấp hành Quyết định 22 là gì?
Đáp: Nếu Quyết định 22 được xác định là hợp pháp và có thể áp dụng đối với vụ việc thì hành vi thu, chi hoặc quản lý tiền học thêm trái với Quyết định 22 có thể là hành vi vi phạm quy định quản lý, nghĩa vụ công vụ hoặc nghĩa vụ nghề nghiệp.
Hậu quả pháp lý cụ thể phải căn cứ vào pháp luật có hiệu lực tại thời điểm xảy ra hành vi, tính chất, mức độ vi phạm, hậu quả và tư cách pháp lý của người thực hiện; có thể gồm trách nhiệm kỷ luật, hành chính, bồi thường hoặc trách nhiệm khác.
Nhưng để kết tội “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ”, cơ quan tiến hành tố tụng phải chứng minh đầy đủ các dấu hiệu cấu thành tội phạm, gồm: chủ thể có chức vụ, quyền hạn; hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn; động cơ vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác; hành vi trái công vụ; hậu quả theo cấu thành tội phạm; lỗi và mối quan hệ nhân quả.
Tính hợp pháp của mức trần chỉ là một mắt xích. Những cáo buộc khác như lập hai hệ thống sổ sách, để tiền ngoài sổ kế toán, cách quản lý và sử dụng 30% nguồn thu — các nội dung đang được tranh luận tại phiên tòa phúc thẩm — vẫn phải được chứng minh, tranh tụng và đánh giá độc lập.
7. Quyết định 22 đã bị bãi bỏ thì có đồng nghĩa bà Bình không phạm tội không?
Đáp:
Quyết định 2339/QĐ-UBND ngày 05/5/2026 của UBND thành phố Hà Nội sử dụng thuật ngữ “bãi bỏ” Quyết định 22. Quyết định này không tuyên Quyết định 22 vô hiệu kể từ thời điểm ban hành. Thay vào đó, việc bãi bỏ là do Quyết định 22 không còn phù hợp với chính sách hiện hành (không phải HỦY BỎ như một số nhận định chủ quan trên mạng xã hội). Vì vậy, việc bãi bỏ không đương nhiên xóa bỏ mọi hiệu lực mà Quyết định 22 từng phát sinh trong quá khứ.
Cần phân biệt 3 vấn đề:
– Việc bãi bỏ một văn bản kể từ một thời điểm nhất định;
– Việc xác định văn bản có trái pháp luật ngay từ khi được ban hành hay không;
– Việc áp dụng các nguyên tắc của pháp luật hình sự, trong đó có nguyên tắc áp dụng quy định có lợi cho người bị buộc tội khi đủ điều kiện.
Nếu Quyết định 22 được xác định là hợp pháp và là cơ sở pháp lý để áp dụng đối với vụ việc thì hành vi thu, chi hoặc quản lý trái với Quyết định 22 là vi phạm làm trái công vụ và có thể phải chịu hậu quả pháp lý (như đã nêu tại mục 6).
Ngược lại, nếu Tòa án xác định quy định về mức trần của Quyết định 22 đã trái văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn ngay từ thời điểm ban hành thì không thể chỉ dựa vào phần vượt trần đó để xác định hành vi trái công vụ và xác định thiệt hại.
Vì vậy, vụ án cần được tách thành 3 câu hỏi độc lập:
(a) Quy định mức trần của Hà Nội khi đó có hợp pháp hay không?
(b) Việc thu, quản lý, hạch toán và sử dụng tiền thực tế diễn ra thế nào?
(c) Những hành vi, hậu quả đã được chứng minh có đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm hay không?
Không nên lấy riêng một kết luận kiểm tra văn bản (Kết luận số 01 của Cục Kiểm tra văn bản) để suy ra vô tội; cũng không thể chỉ dựa vào việc thu vượt mức trần để mặc nhiên suy ra có tội.
8. Việc bãi bỏ Quyết định 22 có làm tình trạng pháp lý của bà Bình tốt hơn, tương tự vụ “gà lôi trắng”, không?
Đáp: Vụ việc này không có cùng cơ chế pháp lý với vụ “gà lôi trắng”.
Trong vụ “gà lôi trắng”, pháp luật thay đổi theo hướng trực tiếp có lợi cho bị cáo: gà lôi trắng được chuyển từ nhóm IB xuống nhóm IIB, làm thay đổi đánh giá pháp lý đối với chính đối tượng của hành vi phạm tội. Tòa án cấp phúc thẩm đã áp dụng điểm a khoản 1 Điều 29 Bộ luật Hình sự, xác định có sự thay đổi chính sách, pháp luật làm cho hành vi phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội và miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Trường hợp bà Bình khác ở chỗ: Quyết định 2339/QĐ-UBND chỉ tuyên bãi bỏ Quyết định 22 kể từ ngày 05/5/2026, chứ không tuyên Quyết định 22 vô hiệu kể từ thời điểm ban hành.
Hơn nữa, pháp luật hiện hành không còn cho phép thu tiền học sinh đối với hoạt động dạy thêm trong nhà trường. Vì vậy, chưa có cơ sở để khẳng định Nhà nước đã thay đổi chính sách theo hướng coi việc tổ chức dạy thêm, thu tiền trong trường là ít nguy hiểm hơn hoặc không còn nguy hiểm cho xã hội. Do đó, việc bãi bỏ Quyết định 22 không đương nhiên làm phát sinh căn cứ miễn trách nhiệm hình sự như vụ “gà lôi trắng”.
Cần phân biệt hai trường hợp:
– Nếu Quyết định 22 được bãi bỏ chỉ vì không còn phù hợp với chính sách dạy thêm, học thêm từ năm 2026 thì việc bãi bỏ không làm thay đổi tính hợp pháp của văn bản và hành vi xảy ra trong năm 2013–2014;
– Nếu Quyết định 22 bị xác định là trái pháp luật ngay từ thời điểm ban hành thì đây là tình tiết đặc biệt quan trọng, có thể làm thay đổi nền tảng pháp lý của việc buộc tội và cải thiện đáng kể tình trạng pháp lý của bà Bình.
Kết quả cuối cùng phụ thuộc vào việc Tòa án xác định Quyết định 22 chỉ không còn phù hợp từ năm 2026, hay đã trái pháp luật ngay từ thời điểm ban hành năm 2013.
* Quan điểm chốt của tôi:
(a) Hà Nội có đầy đủ thẩm quyền ban hành quy định quản lý dạy thêm, học thêm, bao gồm việc đặt ra mức trần tiền học thêm. Đây là một hành động hợp pháp, có ý nghĩa và đáng hoan nghênh.
(b) Có cơ sở pháp lý đầy đủ để cho rằng việc Quyết định 22 vừa cho phép thỏa thuận, vừa giới hạn mức thu tối đa không mâu thuẫn với Thông tư 17.
Nhưng kết luận cuối cùng về trách nhiệm hình sự phải dựa trên chứng cứ và đầy đủ các yếu tố cấu thành tội phạm. Thẩm quyền đưa ra kết luận cuối cùng thuộc về cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Luật sư Nguyễn Văn Đỉnh