UBND thành phố Hà Nội vừa ban hành Quyết định số 2339/QĐ-UBND để bãi bỏ toàn bộ Quyết định số 22/2013/QĐ-UBND ngày 25/6/2013 ban hành Quy định về dạy thêm, học thêm trên địa bàn thành phố Hà Nội.
Thông tin này có mối liên hệ gần gũi với vụ việc cô giáo Nguyễn Thị Bình, cựu hiệu trưởng trường THCS Ba Đình bị TAND Khu vực 1 – Hà Nội tuyên 3 năm tù về tội “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ”.

Trên tường Facebook của tôi, rất nhiều luật sư đồng nghiệp và các nhà báo đã chia sẻ thông tin kèm theo những lời bình luận theo hướng xâu chuỗi 2 sự kiện và bày tỏ quan điểm rằng cô Bình “bị oan”.
Tôi có đọc kha khá ý kiến và thấy rằng một số luật sư đồng nghiệp, nhà báo… đang hiểu sai về bản chất của Quyết định số 2339/QĐ-UBND. Nên tôi quyết định sẽ viết để làm rõ.
Trước hết, tôi xin khẳng định: Qua thông tin tiếp cận trên báo chí thì tôi rất tôn trọng cô Bình và mong rằng các đồng nghiệp sẽ giúp cô Bình “trắng án” trong phiên tòa phúc thẩm sắp tới (tôi rất thiện cảm với phong thái trước tòa, cách chuẩn bị hồ sơ một cách chỉn chu của cô). Về cảm nhận cá nhân, bản án hình sự dành cho cô Bình là quá nặng, nên chăng chỉ dừng lại ở việc xử lý kỷ luật nội bộ theo pháp luật về quản lý công chức, viên chức là đủ?
Tóm lược về vụ việc
Theo thông tin từ báo chí, tôi tóm lược như sau:
(1) Ngày 04/5: Cục Kiểm tra văn bản và Tổ chức thi hành pháp luật – Bộ Tư pháp có kết luận số 01 về kiểm tra Quyết định số 22/2013/QĐ-UBND ngày 25/6/2013 ban hành Quy định về dạy thêm, học thêm trên địa bàn thành phố Hà Nội.
Kết luận kiểm tra đã dẫn Thông tư số 17/2012/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo: Điều 7 Thông tư 17/2012 chỉ nêu: “Đối với dạy thêm, học thêm trong nhà trường: Mức thu tiền học thêm do thỏa thuận giữa cha mẹ học sinh với nhà trường”. Thông tư 17/2012 không quy định hoặc giao chính quyền địa phương quy định mức thu tiền học thêm tối đa. Như vậy, Quyết định 22/2013 của Hà Nội áp “giá trần” là chưa phù hợp.
(Quyết định 22/2013 của Hà Nội áp mức thu tối đa mỗi học sinh/tiết theo số học sinh/lớp. Ví dụ: lớp có 1-9 học sinh được thu tối đa 26.000 đồng/học sinh/tiết, lớp có 10-19 học sinh được thu tối đa 13.000 đồng/học sinh/tiết…)
Sau Quyết định 22/2013, Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội tiếp tục ban hành công văn số 5898/HD-SGD&ĐT ngày 17/7/2013 hướng dẫn các trường với nội dung áp mức thu tối đa tương tự.
Theo Kết luận kiểm tra số 01, các quy định của Quyết định 22/2013 và công văn 5898 được ban hành “không đúng hình thức, thẩm quyền”.
Kết luận kiểm tra số 01 cũng nêu: theo quy định hiện hành, việc dạy thêm trong nhà trường không được thu tiền học sinh; kinh phí phải sử dụng từ ngân sách nhà nước hoặc các nguồn hợp pháp khác. Do đó, quy định áp mức thu tối đa tại Quyết định 22 và văn bản hướng dẫn của Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội hiện không còn phù hợp.
Kết luận kiểm tra số 01 kiến nghị UBND TP, Sở Giáo dục và Đào tạo TP Hà Nội “khẩn trương xử lý” các nội dung trái pháp luật, đồng thời xem xét trách nhiệm của tập thể, cá nhân tham mưu, ban hành văn bản.
(2) Ngày 05/5: Một ngày sau Kết luận kiểm tra số 01, UBND TP Hà Nội ban hành Quyết định số 2339/QĐ-UBND về việc bãi bỏ toàn bộ Quyết định 22/2013, có hiệu lực ngay ngày ký ban hành: 05/5/2026.
(3) Rất nhiều người đã xâu chuỗi 2 sự kiện và đi đến kết luận: Hà Nội đã “nhận sai”: Cục Kiểm tra văn bản và Tổ chức thi hành pháp luật kết luận Quyết định 22/2013 có nội dung trái pháp luật, không đúng hình thức, thẩm quyền nên Hà Nội đã sửa sai bằng cách ngay lập tức bãi bỏ nó!?
Quả là cầu thị, nhanh nhạy, khẩn trương và hoàn toàn không giống câu truyền miệng “Hà Nội không vội được đâu”!?
Quan điểm của luật sư Nguyễn Văn Đỉnh
Xin thưa, quý vị đã nhầm không hề nhỏ.

Quyết định 2339/2026 theo tôi được ban hành để thực hiện vế thứ hai theo Kết luận kiểm tra số 01: theo quy định hiện hành, việc dạy thêm trong nhà trường không được thu tiền học sinh; kinh phí phải sử dụng từ ngân sách nhà nước hoặc các nguồn hợp pháp khác. Do đó, quy định áp mức thu tối đa tại Quyết định 22 và văn bản hướng dẫn của Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội hiện không còn phù hợp.
Hãy nhìn vào phần căn cứ ban hành của Quyết định 2339/2026: Quyết định này được căn cứ các văn bản quy phạm pháp luật mới như Luật Giáo dục (năm 2019, sửa đổi 2025), các Nghị định và đặc biệt là Thông tư số 29/2024/TT-BGDĐT quy định về dạy thêm, học thêm (sửa đổi bởi Thông tư số 19/2026/TT-BGDĐT).
Thông tư 29/2024 đã thay thế hoàn toàn Thông tư 17/2012 và đi theo một đường hướng, triết lý hoàn toàn mới: “Việc dạy thêm, học thêm trong nhà trường không được thu tiền của học sinh và chỉ dành cho các đối tượng học sinh đăng kí học thêm theo từng môn học…”
Do đó, về hình thức thì Quyết định 22/2013 là văn bản quy định chi tiết Thông tư 17/2012; do Thông tư 17/2012 đã bị thay thế bởi Thông tư 29/2024 nên Quyết định 22/2013 cũng phải được điều chỉnh theo hướng sửa đổi hoặc thay thế, bãi bỏ.
Còn xét về nội dung, Thông tư 29/2024 đi theo hướng tiếp cận hoàn toàn mới: Việc dạy thêm, học thêm trong nhà trường không được thu tiền của học sinh (Thầy cô nào muốn thu tiền thì chọn hình thức dạy thêm, học thêm ngoài nhà trường). Nên quy định của Quyết định 22/2013 (cho phép dạy thêm, học thêm trong nhà trường và thu tiền) trái với quy định của Thông tư 29/2024 (dạy thêm, học thêm trong nhà trường thì không được thu tiền).
Chốt lại, Quyết định 22/2013 bám theo Thông tư 17/2012, trong khi Thông tư 17/2012 đã bị thay thế bởi Thông tư 29/2024 với các quy định hoàn toàn mới, thậm chí trái ngược Thông tư 17/2012. Do đó, theo Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Hà Nội buộc phải bãi bỏ Quyết định 22/2013 để tránh “xung đột pháp luật”.
Tình tiết này lý giải tại sao Hà Nội khẩn trương bãi bỏ Quyết định 22/2013 như vậy.
Hãy để ý một tình tiết: phần căn cứ của Quyết định 2339/2026 không dẫn căn cứ kết luận kiểm tra số 01 của Cục Kiểm tra văn bản và Tổ chức thi hành pháp luật.
Quyết định 2339/2026 căn cứ Tờ trình số 1815/TTr-SGDĐT ngày 29/4/2026 của Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo – trước khi có kết luận kiểm tra của Cục. Chúng ta không được tiếp cận Tờ trình này để biết chính xác căn cứ nào để bãi bỏ Quyết định 22/2013.
Cô Bình có tội hay vô tội?
Vấn đề tiếp theo đặt ra: “Số phận pháp lý” của cô giáo Nguyễn Thị Bình thế nào sau khi Hà Nội đã bãi bỏ Quyết định 22/2013?
Đây là vấn đề rất phức tạp và quyết định thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Về mặt pháp lý, Quyết định 2339/2026 đã BÃI BỎ Quyết định 22/2013.
Theo Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lực toàn bộ hoặc một phần trong trường hợp bị bãi bỏ.
Điều đó có nghĩa rằng: Tại thời điểm ngày 05/5/2026, khi Quyết định 2339/2026 phát sinh hiệu lực thì Quyết định 22/2013 hết hiệu lực.
Và như vậy thì về nguyên tắc, Quyết định 22/2013 vẫn phát sinh hiệu lực trong giai đoạn từ ngày 05/7/2013 đến trước ngày 05/5/2026.
Đó là giai đoạn xảy ra những hoạt động tổ chức dạy thêm, học thêm trong nhà trường của cô giáo Nguyễn Thị Bình và đã được kết luận là trái với Quyết định 22/2013 (nhưng không trái Thông tư 17/2012).
Đây là điểm khác biệt cơ bản giữa 2 hình thức: bãi bỏ văn bản và hủy bỏ văn bản.
(i) Nếu một văn bản bị bãi bỏ: văn bản ấy vẫn có hiệu lực cho đến thời điểm bị bãi bỏ (thời điểm văn bản bãi bỏ phát sinh hiệu lực).
(ii) Ngược lại, nếu một văn bản bị hủy bỏ: văn bản ấy coi như chưa từng có hiệu lực.
Đó là lý do Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật không quy định hình thức hủy bỏ văn bản quy phạm pháp luật (nếu văn bản quy phạm pháp luật sai thì có thể bị đình chỉ việc thi hành, hoặc bị tạm ngưng hiệu lực trước khi sửa đổi, bãi bỏ). Vì một văn bản quy phạm pháp luật sẽ điều chỉnh, tác động đến nhiều chủ thể, nhiều quan hệ pháp luật… và việc hủy bỏ nó sẽ dẫn tới hàng loạt quan hệ pháp luật bị rơi vào tình trạng không có hành lang pháp lý điều chỉnh.
Việc hủy bỏ văn bản chỉ được áp dụng với các văn bản cá biệt, chẳng hạn các quyết định hành chính.
Vậy điều gì chờ đợi cô giáo Nguyễn Thị Bình ở phiên tòa phúc thẩm sắp tới khi đứng trước 2 văn bản quy phạm pháp luật đều có hiệu lực ở thời điểm xảy ra “vi phạm” (Quyết định 22/2013 và Thông tư 17/2012).
Điều oái oăm là Quyết định 22/2013 lại có nội dung trái với Thông tư 17/2012 (theo Kết luận kiểm tra số 01, còn có thực sự trái hay không, tôi sẽ nêu ý kiến, quan điểm của mình ở phần sau của bài viết này).
Cô giáo Nguyễn Thị Bình đã làm sai so với Quyết định 22/2013 nhưng nếu đối chiếu với Thông tư 17/2012, cô Bình lại không sai (vì Điều 7 Thông tư 17/2012 quy định “mức thu tiền học thêm do thỏa thuận giữa cha mẹ học sinh với nhà trường” và không quy định địa phương được/phải ban hành một quy định riêng về mức thu này).
Để đánh giá một hành vi là Đúng hay Sai thì phải căn cứ vào quy định của pháp luật (Đúng/Sai phải xét trong hệ quy chiếu tương ứng). Vậy sẽ lấy văn bản nào, Quyết định 22/2013 hay Thông tư 17/2012 để làm “barem” đánh giá?
Chỉ cần một bạn sinh viên luật năm cuối cũng có thể trả lời câu hỏi này: Theo nguyên tắc áp dụng văn bản quy phạm pháp luật, “Trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn” (Điều 58 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2025), nên phải áp dụng theo Thông tư 17/2012 vì Thông tư của Bộ có hiệu lực cao hơn Quyết định 22/2013 của địa phương.
Đó là câu trả lời về mặt lý thuyết, học thuật, phục vụ nghiên cứu, giảng dạy. Còn về mặt thực tiễn, sẽ phải xem xét kỹ càng hơn, đa chiều hơn để đánh giá một hành vi là Đúng hay Sai trước pháp luật.
Đành rằng Thông tư 17/2012 có hiệu lực cao hơn Quyết định 22/2013 nhưng hãy chú ý đến chủ thể áp dụng. Cần nhấn mạnh rằng ở thời điểm vi phạm, cô giáo Nguyễn Thị Bình là viên chức lãnh đạo, quản lý (thuộc quản lý về hành chính, về chuyên môn của UBND quận, UBND thành phố, Sở GD&ĐT, Phòng GD&ĐT).
Quyết định 22/2013 của UBND TP Hà Nội, công văn số 5898/HD-SGD&ĐT ngày 17/7/2013 của Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội là những văn bản có mối liên hệ trực tiếp, gần gũi với hoạt động công vụ của cô giáo Bình và cô Bình có nghĩa vụ, trách nhiệm thi hành không chỉ theo quy định của pháp luật về giáo dục mà còn theo pháp luật về quản lý viên chức. Chưa kể nếu cô Bình là đảng viên thì còn phải thực hiện theo các quy định nội bộ của Đảng, bao gồm nguyên tắc tập trung, dân chủ.
Câu hỏi pháp lý quan trọng nhất theo tôi là: Tại thời điểm thực hiện hoạt động dạy thêm, học thêm (năm 2013-2014), cô giáo Nguyễn Thị Bình có biết đến quy định của Quyết định 22/2013 và công văn số 5898 hay không?
Thật khó để nói rằng cô Bình với vai trò người đứng đầu mà không biết đến các quy định ấy. Theo nguyên tắc suy đoán pháp lý, pháp luật buộc cô Bình phải biết Quyết định 22/2013 và công văn số 5898.
Việc chỉ đạo lập hai sổ kế toán (nếu thông tin này là đúng) làm sáng tỏ việc cô Bình biết rõ quy định của Quyết định 22/2013, công văn số 5898 và đã chủ động đối phó với nó.
Một người đứng đầu cơ sở giáo dục công lập thuộc đối tượng phải thực thi Quyết định 22/2013 sẽ phải làm gì nếu phát hiện Quyết định 22/2013 có nội dung trái với Thông tư 17/2012?
Anh có đương nhiên được áp dụng theo nguyên tắc của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật để chỉ làm theo Thông tư 17/2012 và phớt lờ Quyết định 22/2013?
Là viên chức quản lý và là cấp dưới, khi thấy văn bản, quy định của cấp trên có vấn đề thì trước tiên anh phải báo cáo, trao đổi, xin ý kiến để cấp trên điều chỉnh kịp thời, làm cơ sở để anh thực hiện, chứ không phải anh được tự làm theo ý mình mà không cần phải báo cáo, xin phép ai cả.
Hà Nội có cả nghìn cơ sở giáo dục công lập. Thử tưởng tượng mỗi cơ sở làm theo một phách thì chính quyền làm sao có thể quản lý? Như thế có phải là cách làm “tự tung tự tác” hay không?
Tại Kết luận số 14-KL/TW ngày 22/9/2021 (tức là ban hành sau 7-8 năm so với thời điểm Trường THCS Ba Đình của cô Bình tổ chức dạy thêm thu tiền vượt mức quy định), Bộ Chính trị mới cho chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung.
Tại Kết luận số 14-KL/TW quy định: “Trong quá trình thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao, xuất phát từ yêu cầu, đòi hỏi cấp thiết của thực tiễn, khuyến khích cán bộ có tư duy sáng tạo, cách làm đột phá, tháo gỡ, giải quyết những điểm nghẽn, nút thắt trong cơ chế, chính sách, tập trung vào những vấn đề chưa được quy định hoặc đã có quy định nhưng không phù hợp với thực tiễn, mang lại giá trị, hiệu quả thiết thực, tạo được chuyển biến mạnh mẽ, đóng góp tích cực vào sự phát triển chung.
Đề xuất đổi mới, sáng tạo của cán bộ phải báo cáo với người đứng đầu cấp uỷ, chính quyền, cơ quan, đơn vị nơi công tác; được cơ quan có thẩm quyền xem xét, quyết định cho thực hiện hoặc thực hiện thí điểm, bảo đảm không trái với Hiến pháp và Điều lệ Đảng.
Khi cán bộ thực hiện thí điểm mà kết quả không đạt hoặc chỉ đạt được một phần mục tiêu đề ra hoặc gặp rủi ro, xảy ra thiệt hại thì cấp có thẩm quyền phải kịp thời xác định rõ nguyên nhân khách quan, chủ quan, đánh giá công tâm để xem xét, xử lý phù hợp, nếu thực hiện đúng chủ trương, có động cơ trong sáng, vì lợi ích chung thì được xem xét miễn hoặc giảm nhẹ trách nhiệm.”
Kết luận số 14-KL/TW này mở đầu cho một thời kỳ phát triển với rất nhiều văn bản, nghị quyết, kết luận… về tháo gỡ những điểm nghẽn về thể chế, chính sách, gồm những quy định không phù hợp với thực tiễn, cản trở sự phát triển. Một yêu cầu quan trọng là khi phát hiện cơ chế, chính sách có vướng mắc thì phải báo cáo với cấp trên, tổ chức để được xem xét, sau đó mới được áp dụng các cơ chế miễn hoặc giảm nhẹ trách nhiệm nếu kết quả thực hiện không đạt.
Cô giáo Nguyễn Thị Bình đã báo cáo lên các cơ quan cấp trên (về việc Quyết định 22/2013 trái với Thông tư 17/2012, tôi phải làm theo Quyết định của thành phố hay Thông tư của Bộ) hay chưa trước khi tổ chức dạy thêm, học thêm với mức thu cao hơn so với quy định của thành phố?
Quyết định 22/2013 có hợp pháp không?
Như đã nêu tại phần trên của bài viết, việc Hà Nội bãi bỏ Quyết định 22/2013 ở thời điểm năm 2026 không đồng nghĩa với việc Hà Nội nhận định rằng Quyết định 22/2013 sai mà có thể chỉ đơn thuần là do Quyết định 22/2013 đã không còn phù hợp với bối cảnh, quy định của năm 2026.
Quyết định 22/2013 có thực sự trái với Thông tư 17/2012 hay không cũng là vấn đề rất đáng bàn luận:?
Thông tư 17/2012 không quy định địa phương được quy định mức thu tiền học thêm tối đa nhưng cũng không cấm địa phương đưa ra quy định riêng cho địa phương mình.
Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật trao cho chính quyền địa phương (cụ thể là UBND cấp tỉnh) thẩm quyền ban hành quyết định để quy định: “Biện pháp thi hành Hiến pháp, luật, văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên”; “Biện pháp thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương”; bên cạnh việc quy định “Chi tiết điều, khoản, điểm được giao trong văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên”.
Trong mô hình hành chính hiện đại, chính quyền địa phương không chỉ tham gia vào các quan hệ pháp luật một cách thụ động mà trái lại, ngày càng tích cực, chủ động (trên tinh thần “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm”).
Quy định đặc thù của Hà Nội tại Quyết định 22/2013, không có trong Thông tư 17/2012 liệu có thể được coi là “Biện pháp thi hành văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên”; “Biện pháp thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương”?
Hoàn toàn có thể chứ. Nếu như tại thời điểm ban hành Quyết định 22/2013, Hà Nội nhận thấy cần thiết phải ấn định mức trần tiền học thêm để tránh lạm thu, bảo vệ quyền lợi của học sinh và phụ huynh?
Tôi không được tiếp cận hồ sơ xây dựng Quyết định 22/2013 (gồm Tờ trình, Báo cáo thẩm tra, Báo cáo tiếp thu, giải trình…) để đánh giá chi tiết. Nhưng tôi tin rằng Hà Nội có lý do chính đáng để ban hành quy định đặc thù nhằm bảo vệ quyền lợi của người học.
Quyết định 22/2013 của Hà Nội không hẳn là “trái” mà có thể chỉ là để “cụ thể hóa” mức thu. Nếu cơ quan tố tụng lập luận rằng địa phương có quyền quy định biện pháp quản lý hành chính để chống lạm thu (theo thẩm quyền của UBND cấp tỉnh), thì Quyết định 22/2013 vẫn có giá trị bắt buộc thi hành với viên chức thuộc quyền quản lý.
Quy định đặc thù nhưng theo hướng có lợi cho các chủ thể thì cần được khuyến khích áp dụng, ngược lại, nếu nó tạo ra bất lợi thì mới nên “tuýt còi”.
Trở lại với vụ việc của cô Bình, tôi mong rằng những người bào chữa sẽ tư vấn cho cô hướng đi hợp lý và khả thi hơn là đi theo hướng bào chữa để “Miễn chấp hành hình phạt”; “miễn trách nhiệm hình sự” thay vì đi theo hướng “vô tội”. Như vậy sẽ là khả thi hơn.
Dẫu sao, việc Hà Nội bãi bỏ Quyết định 22/2013 ngay trước phiên tòa phúc thẩm có thể là một căn cứ quan trọng để Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi trong bối cảnh lịch sử cụ thể, từ đó áp dụng các chính sách nhân đạo của pháp luật hình sự như miễn chấp hành hình phạt hoặc miễn trách nhiệm hình sự, thay vì duy trì bản án tù giam đối với một nhà giáo có nhiều đóng góp cho ngành giáo dục.
P.S: Đây là quan điểm cá nhân của tôi dựa trên các lập luận pháp lý đã nêu và để tốt cho cô Bình – người mà tôi cảm nhận không đáng phải chịu án tù. Tôi rất xin lỗi các đồng nghiệp nếu quan điểm này khiến các luật sư phật ý. Trên tất cả, tôi rất mong những điều tốt đẹp cho cô Bình.
Ngày 10/5/2026
Luật sư Nguyễn Văn Đỉnh