Phiên tòa xử một cựu hiệu trưởng đang làm nóng dư luận những ngày qua. Với sự tham gia đông đảo của truyền thông, mạng xã hội, rất nhiều người đã đặt ra câu hỏi: cô hiệu trưởng có phải là đã bị oan không?
Bài liên quan:
Hỏi nhanh, đáp gọn vụ hiệu trưởng thu sai tiền học thêm
Bãi bỏ quy định dùng buộc tội hiệu trưởng “thu sai tiền dạy thêm”: Hiểu sao cho đúng
Hôm nọ, tôi đọc được một comment trên Facebook rất đáng suy ngẫm từ một người cũng là nhà giáo: “Dạy thêm, học thêm là một khuyết tật của nền giáo dục”. Tôi cứ suy nghĩ mãi về điều đó. Rồi tôi lại nghĩ đến quan điểm của một luật sư tham gia trong vụ án: “Thông tư 17 không quy định UBND cấp tỉnh được quy định mức trần tiền học thêm. Dạy thêm, học thêm là quan hệ dân sự giữa nhà trường và phụ huynh. Quyết định 22 của UBND TP Hà Nội trái với Thông tư 17 và can thiệp vào quan hệ dân sự…”

Điểm mấu chốt ở đây là: quan hệ giữa người dạy (thầy cô giáo, người quản lý trường học) với người học (học sinh và người đại diện là cha mẹ học sinh) có phải quan hệ dân sự không (theo đúng bản chất của quan hệ dân sự là các quan hệ được hình thành trên cơ sở bình đẳng, tự do ý chí, độc lập về tài sản và tự chịu trách nhiệm).
Đối với dạy thêm, học thêm trong nhà trường, Thông tư 17 quy định: “Mức thu tiền học thêm do thỏa thuận giữa cha mẹ học sinh với nhà trường”. Tình tiết này cho thấy quan hệ này có vẻ giống với một quan hệ dân sự. Nhưng về bản chất những gì diễn ra trong trường học công lập, sự thỏa thuận có thực sự “bình đẳng, tự do ý chí” hay là bị ép thỏa thuận bằng quyền lực mềm?
Nếu bạn có con đã và đang theo học trường công tại Hà Nội (đặc biệt là giai đoạn 10 năm trở về trước), bạn sẽ tự có câu trả lời?
Quan hệ này cũng gần tương tự như người tiêu dùng sử dụng điện, nước… Người tiêu dùng thực tế có được thỏa thuận về các điều khoản hợp đồng không hay là “Có ký không thì bảo?”
Có những quan hệ kinh tế mà một bên chiếm ưu thế và một bên hoàn toàn bị động, bị đặt vào thế buộc phải giao kết hợp đồng. Do đó, pháp luật mới thiết kế quy định để những cơ quan trung gian – thay mặt Nhà nước – đứng ra bảo vệ bên yếu thế. Chẳng hạn, ta có Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng để bảo vệ người dân là bên yếu thế trong mối quan hệ bất bình đẳng.
Hơn nữa, quan hệ giữa người dạy và người học trong trường học không bao giờ nên coi là một quan hệ kinh tế thông thường. Phía sau đó còn là văn hóa, đạo lý, tinh thần tôn sư trọng đạo…
Thông tư 17 cho phép cơ chế thỏa thuận giữa nhà trường và cha mẹ học sinh (Điều 7), đồng thời giao trách nhiệm cho UBND cấp tỉnh ban hành văn bản quy định về dạy thêm, học thêm để áp dụng trên địa bàn, bao gồm cả quy định về “Việc thu, quản lý và sử dụng tiền học thêm” (Điều 15), là vừa tôn trọng sự thỏa thuận, vừa có tính kiểm soát chặt chẽ (ta hay gọi là “có van, có khóa”).
Tôi đánh giá cao cách thiết kế này và bản thân các quy định trên không hề mâu thuẫn hay phủ nhận nhau. Việc UBND TP Hà Nội ban hành Quyết định 22, trong đó có quy định mức trần tiền học thêm, cũng là sự thận trọng cần thiết, tránh tùy tiện, lạm thu và làm biến dạng quan hệ giáo dục trong nhà trường.
Những quy định rất hay và nhân văn ấy nay được đem ra để mổ xẻ. Nào là trái pháp luật? Nào là “vô hiệu”. Nào là “lệ làng lấn phép vua”? Thậm chí có một luật sư tham gia vụ án còn tuyên bố “vi hiến”!?
Quan điểm của tôi: Quyết định 22 hoàn toàn hợp pháp, không trái Thông tư 17 và có hiệu lực pháp luật để ràng buộc trách nhiệm của các cơ sở giáo dục, những người đứng đầu (các hiệu trưởng). Thực hiện trái Quyết định 22 là hành vi vi phạm pháp luật (đặc biệt nếu việc làm trái còn được hợp thức hóa bằng hồ sơ, sổ sách không phản ánh đúng sự thật, bao gồm việc chia lớp, chia nhóm ảo để trông có vẻ phù hợp với mức thu của Quyết định 22).
Về lý lẽ để khẳng định tính hợp pháp của Quyết định 22 thì tôi đã nêu trong nhiều bài viết, bạn đọc quan tâm có thể xem theo đường link tại comment.
Dĩ nhiên, từ hành vi trái pháp luật đến việc kết tội “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ” là khoảng cách rất dài. Cơ quan tiến hành tố tụng phải chứng minh đầy đủ các dấu hiệu cấu thành tội phạm, gồm: chủ thể có chức vụ, quyền hạn; hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn; động cơ vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác; hành vi trái công vụ; hậu quả theo cấu thành tội phạm; lỗi và mối quan hệ nhân quả…
Việc thu vượt quá mức trần chỉ là một mắt xích. Những tình tiết khác như lập hai hệ thống sổ sách, để tiền ngoài sổ kế toán, cách quản lý và sử dụng 30% nguồn thu – các nội dung đã được tranh luận tại phiên tòa phúc thẩm – vẫn phải được chứng minh, tranh tụng và đánh giá.
Đâu đó những ngày qua, tôi có nghe thấy một lý lẽ khá khôi hài: Quyết định 22 trái pháp luật (cụ thể là trái Thông tư 17), nên Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức cho phép cán bộ, công chức, viên chức được quyền từ chối thi hành văn bản, quyết định trái pháp luật.
Lập luận này đã đánh đồng hai cơ chế pháp lý khác nhau. Điều 11 Luật Viên chức năm 2010 ghi nhận quyền của viên chức được từ chối thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ trái pháp luật. Trong khi đó, Điều 9 Luật Cán bộ, công chức năm 2008 quy định: khi có căn cứ cho rằng quyết định của cấp trên trái pháp luật thì cán bộ, công chức phải báo cáo bằng văn bản; nếu người ra quyết định vẫn yêu cầu thi hành bằng văn bản thì phải chấp hành, đồng thời báo cáo cấp trên trực tiếp.
Các quy định này cũng không trao cho một cá nhân quyền tự mình tuyên bố một văn bản quy phạm pháp luật của cấp trên là vô hiệu và tự ý không thi hành.
Giả sử (cứ cho rằng) Quyết định 22 trái Thông tư 17 đi thì về bản chất, Quyết định 22 nhằm khắc phục kẽ hở của Thông tư 17 – việc ban hành mức trần tiền học thêm là để tránh lạm thu, tránh tổn hại đến người học và tránh biến dạng tình thầy trò (khiến dạy thêm, học thêm trở thành kinh doanh dịch vụ trá hình ngay trong trường công lập). Về mục đích của chính sách, Quyết định 22 có mục đích tốt đẹp.
Để dễ hình dung, nó cũng gần tương tự câu chuyện “khoán hộ” ở Vĩnh Phúc – tiền đề dẫn tới Chỉ thị 100 và Khoán 10 sau này: một cách làm của địa phương chưa phù hợp với cơ chế quản lý chung lúc bấy giờ nhưng có mục đích tốt đẹp và đã được thực tiễn kiểm chứng bằng hiệu quả.
Dĩ nhiên, mục đích tốt đẹp không thể tự nó làm cho một văn bản trái pháp luật trở thành hợp pháp. Nhưng một người cũng không thể chỉ dựa trên nhận định chủ quan rằng văn bản đó trái pháp luật để tự ý không thi hành, nhất là khi không báo cáo, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét, xử lý mà lại tổ chức thực hiện theo một cách khác.
Đây là một vụ án hình sự nhưng có ý nghĩa xã hội đặc biệt hơn các vụ án thông thường bởi nó sẽ tác động mạnh mẽ đến nhận thức, cách xã hội ứng xử với hành vi vi phạm pháp luật. Tinh thần thượng tôn pháp luật được đặt ở đâu?
Là luật sư, tôi không hề mong muốn có một người nào đó phải ngồi tù nhưng trên tất cả, tôi mong muốn một xã hội thượng tôn pháp luật. Ai làm sai thì trước tiên phải nhận thức rõ về cái sai và có thái độ phù hợp với cái sai của mình.
Đám đông dư luận cũng cần nhận thức đúng đắn về điều đó thay vì ra sức bảo vệ và tôn vinh người có vi phạm như một người hùng chống tiêu cực (và ngược lại, ra sức tấn công người tố cáo hành vi vi phạm).
Đó không phải là những hành động nhằm bảo vệ công lý mà đang làm tổn thương công lý, bởi công lý không thể được xây dựng trên cảm tính, sự quy chụp và áp lực đám đông.
Oan hay không oan phải được trả lời bằng chứng cứ và pháp luật, không phải bằng số lượng người bày tỏ sự thương cảm hoặc phẫn nộ trên mạng xã hội như những ngày qua.
Ngày 14/9/2026
Luật sư Nguyễn Văn Đỉnh