Vào một ngày cuối năm 2024, khi đến thăm nhà một người quen trên con phố thuộc tuyến đường vành đai 2 của Thủ đô Hà Nội, tôi rất ngạc nhiên khi thấy một công trình đồ sộ án ngữ ngay đầu ngõ.

Với kiến thức chuyên môn trong nghề, tôi biết ngay căn nhà này đang xây sai giấy phép xây dựng. Đó là một công trình có quy mô rất lớn, chiếm trọn vẹn lô đất có diện tích hơn 500m2, đang được xây dựng hoàn thiện 3 tầng hầm, 7 tầng nổi và vẫn tiếp tục thi công lên tầng 8.

Bài trong mục Tâm điểm, báo Dân trí: Cấp phép và “phù phép” xây dựng

Theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia số 01 về quy hoạch xây dựng do Bộ Xây dựng ban hành, với lô đất có diện tích trên 500m2 sẽ chỉ được xây dựng công trình nhà ở riêng lẻ với mật độ xây dựng tối đa là 50%. Như vậy, chỉ cần nhìn lướt qua cũng có thể thấy chủ đầu tư đã xây dựng với mật độ thực tế gấp đôi mức tối đa cho phép.

Tác giả – luật sư Nguyễn Văn Đỉnh

Bằng một kỹ thuật tra cứu đơn giản trên cổng thông tin điện tử của quận, tôi đã tiếp cận được giấy phép xây dựng của công trình này. Theo đó, chủ đầu tư đã được UBND quận cấp 2 giấy phép xây dựng vào tháng 11/2023. Điều đáng chú ý là tại 2 giấy phép xây dựng này, chủ đầu tư chỉ được xây 2 công trình riêng rẽ với quy mô 5 tầng nổi, 2 tầng hầm, cộng với tầng lửng, tum thang với tổng diện tích xây dựng khoảng trên 250m2.

Các giấy phép xây dựng này được cấp với chỉ tiêu phù hợp với Quy chuẩn về quy hoạch xây dựng nhưng trên thực tế, chủ đầu tư đã xây công trình với quy mô, hình dáng hoàn toàn khác (vượt 3 tầng và có mật độ xây dựng cao gấp đôi so với giấy phép được cấp). Không những vậy, pháp luật xây dựng quy định chủ đầu tư phải niêm yết công khai giấy phép tại địa điểm xây dựng trong suốt quá trình thi công, tuy nhiên tại công trường không có bảng hiệu ghi thông tin công trình, nội dung giấy phép xây dựng được cấp. Điều này dẫn đến người dân không rõ công trình đã được cấp giấy phép xây dựng hay chưa, quy mô được cấp phép như thế nào để theo dõi, giám sát.

Trường hợp này, chủ đầu tư đã có ít nhất 3 hành vi vi phạm: Xây dựng công trình không đúng với giấy phép xây dựng; không công khai nội dung giấy phép xây dựng tại địa điểm thi công; không sử dụng hoặc sử dụng sai quy chuẩn kỹ thuật. Mặc dù vậy, quá trình thi công kéo dài qua nhiều tháng với sai phạm lồ lộ nhưng tuyệt nhiên không thấy cơ quan chức năng như thanh tra xây dựng hay Đội quản lý trật tự xây dựng đô thị đến kiểm tra, xử phạt (riêng hành vi tổ chức thi công sai nội dung giấy phép xây dựng đã có thể bị phạt tới 120 triệu đồng kèm biện pháp khắc phục hậu quả là buộc phá dỡ công trình vi phạm).

So với việc chỉ một xẻng cát, một xe gạch cũng không qua mắt được tai mắt của cơ quan công quyền thì tình huống nêu trên chẳng khác nào “con voi chui qua lỗ kim”. Điều đó khiến ta phải đặt câu hỏi về hiệu quả thực tế của biện pháp “tiền kiểm” thông qua thủ tục cấp phép xây dựng.

Giữa con phố lớn ở một quận trung tâm của Thủ đô, một công trình đã được cấp phép xây dựng nhưng thực tế “giấy phép một đằng, thi công một nẻo” mà không thấy ai phát hiện, ngăn chặn trong tiếng xì xào của cư dân xung quanh về mối quan hệ “khủng” của chủ đầu tư. Mà đây cũng chỉ là một trong những trường hợp có thể bắt gặp trên các con phố hoặc trong các ngõ, ngách của Hà Nội và nhiều đô thị khác. Vụ cháy chung cư mini tại quận Thanh Xuân hai năm trước, tiếp sau đó là các cuộc thanh tra, rà soát đã chỉ ra rất nhiều vi phạm về trật tự xây dựng, trong đó có những trường hợp xây vượt 2-3 tầng, vượt mật độ xây dựng… so với giấy phép được cấp. Nó cho thấy khâu “tiền kiểm” thông qua cấp phép xây dựng trên thực tế đã bị vô hiệu hóa.

Bởi vậy, tôi hoàn toàn tán thành với chỉ đạo mới đây của Thủ tướng Chính phủ về tập trung cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính trong lĩnh vực xây dựng, trong đó có yêu cầu bỏ thủ tục cấp giấy phép xây dựng đối với các công trình thuộc dự án đã có quy hoạch chi tiết hoặc các công trình thuộc khu vực đã phê duyệt thiết kế đô thị.

Rất nhanh chóng, Thành phố HCM đã đi đầu với chỉ đạo nghiên cứu cắt giảm thủ tục cấp phép xây dựng, thay vào đó, người dân chỉ cần làm thủ tục đăng ký xây dựng. Thay vì xử lý hồ sơ để giải quyết cấp phép ở khâu “tiền kiểm”, cơ quan chuyên môn sẽ lưu giữ hồ sơ và tổ chức “hậu kiểm” để xử lý, chấn chỉnh người vi phạm (không đăng ký xây dựng hoặc thi công sai so với nội dung đã đăng ký).

Hiện nay, với các dự án đầu tư thì sau khi hoàn thiện các bước lập, thẩm định, phê duyệt quy hoạch; chấp thuận chủ trương đầu tư và lựa chọn được nhà đầu tư thực hiện thì chủ đầu tư phải thực hiện thêm một loạt thủ tục mang tính chất “tiền kiểm” thì mới đủ điều kiện khởi công. Các thủ tục này gồm: thẩm định báo cáo nghiên cứu khả thi (trong thành phần hồ sơ có thiết kế cơ sở); thẩm duyệt thiết kế về phòng cháy, chữa cháy; thẩm định, phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường. Thủ tục tiền kiểm được “chốt” bởi bước cấp phép xây dựng.

Các thủ tục này đều thuần túy mang tính kỹ thuật. Chẳng hạn với thủ tục thẩm định báo cáo nghiên cứu khả thi, cơ quan quản lý sẽ kiểm tra, đối chiếu hồ sơ thiết kế với các quy hoạch được phê duyệt, các quy chuẩn, tiêu chuẩn áp dụng để kết luận hồ sơ có đạt hay không. Nội dung tương tự cũng xảy ra với thủ tục thẩm duyệt thiết kế về PCCC (cơ quan chuyên môn sẽ đối chiếu hồ sơ thiết kế với các quy chuẩn, tiêu chuẩn về PCCC để đánh giá đạt hay không đạt).

Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ khiến các thủ tục thuần kỹ thuật không cần thiết phải trình lên cơ quan quản lý. Thay vào đó, hoàn toàn có thể thiết kế quy định theo hướng xã hội hóa (sử dụng dịch vụ thẩm tra của các đơn vị có đủ năng lực). Đơn vị thẩm tra có thể sử dụng phần mềm, máy móc, thậm chí AI để kiểm tra và trả ra kết quả nhanh hơn so với công chức nhà nước.

Thay vì trực tiếp “tiền kiểm”, cơ quan quản lý nhà nước sẽ dồn nguồn lực, con người cho công tác hậu kiểm. Chẳng hạn, sau khi người dân đã gửi hồ sơ đăng ký xây dựng, cán bộ, công chức phường, xã có thể sử dụng flycam để kiểm tra nhằm đảm bảo việc thi công thực tế tuân thủ đúng thiết kế đã được đăng ký; đồng thời dễ dàng phát hiện các công trình thi công khi chưa thực hiện việc đăng ký.

Cách làm này vừa giúp tiết kiệm thời gian, công sức của người dân cũng như cơ quan quản lý; vừa đảm bảo tính minh bạch do tránh được việc tiếp xúc trực tiếp giữa người quản lý với người dân, dễ phát sinh nhũng nhiễu, tiêu cực.

Luật sư Nguyễn Văn Đỉnh