Giống như các bậc cha mẹ khác, thi thoảng mình cũng hỏi hai đứa xem lớn lên chúng muốn làm nghề gì. Trong khi cô chị khá lơ đễnh thì cậu em lại rất quyết đoán. Làm bác sĩ? Không. Kỹ sư? Không. Thầy giáo? Không. Nhà khoa học? Không. Công an, bộ đội? Không. Thằng nhóc quả quyết: “Lớn lên con muốn làm luật sư như bố”.

Mặc dù còn khá mù mờ với công việc của một luật sư nhưng mình quan sát thì thằng nhóc có tố chất để làm nghề này. Nó ưa tranh biện, luôn tranh luận để đi đến kết quả cuối cùng – đặc biệt mỗi khi chịu oan ức, lập luận khá logic và tư duy có chiều sâu. Thằng nhóc bình thường rất lơ đễnh nhưng lại cực kỳ tập trung trong những việc mà nó cho là quan trọng, ví dụ như là gấp giấy.

Thế là bố bất đắc dĩ trở thành người hướng dẫn tập sự cho “luật sư nhí” này, giảng giải (bằng ngôn ngữ của trẻ con) cho thằng nhóc các khái niệm pháp lý cơ bản. Pháp luật là gì; quy phạm pháp luật là gì; chế tài là gì… Diễn giải sao cho một đứa trẻ 9 tuổi hiểu được là cực kỳ khó.

Thế rồi thi thoảng mình lại suy nghĩ đến một ngày nào đó cu cậu sẽ lớn lên, trở thành một thanh niên, bắt đầu sử dụng mạng xã hội để quan sát, lắng nghe và đọc. Rồi có lẽ nó sẽ đọc được những gì bố viết trên báo hay trên mạng xã hội (Facebook mình để công khai như một “public figure”). Và một mối âu lo bắt đầu xuất hiện: Điều gì xảy ra nếu thằng nhóc nhận thấy những gì bố viết trên mạng xã hội (với tư cách luật sư Đỉnh) không giống những gì bố thường dạy (với tư cách bố Đỉnh)?

Do đặc thù nghề nghiệp, luật sư phải sống với hai con người cùng một lúc. Một con người do Thượng Đế tạo ra, đúng nghĩa là “con người” với đầy đủ cái tôi, bản ngã, hỉ nộ ái ố, niềm tin tôn giáo, sự yêu – ghét, thái độ chính trị, niềm tin nội tâm…

Một con người khác do nghề nghiệp nhào nặn: Phải hành nghề để kiếm tiền nuôi sống bản thân, gia đình, trang trải cho các sở thích cá nhân… Con người thứ hai buộc luật sư phải bảo vệ, bào chữa cho khách hàng là bị can, bị cáo, đương sự… trong các vụ án với trách nhiệm bảo vệ tốt nhất lợi ích của khách hàng.

Điều trớ trêu là hai con người ấy nhìn chung không hòa làm một. Đôi khi luật sư phải “cãi” cho một hành vi của khách hàng mà nếu hành vi ấy xảy ra với người thân của mình thì luật sư sẽ không để yên.

Theo các chuẩn mực nghề nghiệp quốc tế, bảo vệ một người không có nghĩa là tán thành hành vi của người ấy. Nguyên tắc của Liên Hợp Quốc nêu rõ nguyên tắc không đồng nhất luật sư với khách hàng hoặc vụ việc mà họ đại diện. Quy tắc mẫu của Hiệp hội Luật sư Hoa Kỳ cũng quy định: việc nhận đại diện không đồng nghĩa với việc ủng hộ quan điểm chính trị, kinh tế, xã hội hay đạo đức của khách hàng. Ở Anh, trong những điều kiện nhất định, “cab-rank rule” yêu cầu luật sư tranh tụng nhận một vụ việc phù hợp chuyên môn khi được chỉ dẫn theo đúng điều kiện của quy tắc, dù họ không đồng tình với khách hàng. Nói khái quát: ngay cả người bị dư luận ghét bỏ cũng cần được tiếp cận sự trợ giúp pháp lý.

Điều đó không có nghĩa là để bảo vệ khách hàng, luật sư phải tạm gác đạo đức sang bên. Luật sư trung thành với khách hàng nhưng đồng thời phải giữ sự độc lập và có trách nhiệm với việc thực thi công lý; không được đưa ra lập luận gian dối để phục vụ khách hàng. Nói cách khác, luật sư có thể phản đối một hành vi mà vẫn kiên quyết bảo vệ quyền tố tụng của người thực hiện hành vi đó.

Đặc thù nghề nghiệp ấy khiến luật sư là một nghề gây ra nhiều quan điểm trái chiều tại nhiều quốc gia. Không phải ai cũng “ưa” nghề luật sư. Nhưng ai hiểu về nghề luật sư có lẽ cũng sẽ cảm thông bởi luật sư cũng là một nghề để “kiếm cơm”. Luật sư phải bảo vệ khách hàng, trong giới hạn do pháp luật và Bộ Quy tắc đạo đức nghề nghiệp quy định, để nhận thù lao giống như bao người lao động phải làm việc theo hợp đồng lao động để được nhận lương hàng tháng.

 Vậy trên mạng xã hội hay các phương tiện truyền thông, với các bài bình luận về các vấn đề pháp lý, luật sư nên show ra con người nào? Con người thứ nhất với đầy đủ cái tôi, bản ngã, sự yêu – ghét…? Hay con người thứ hai với mục tiêu nghề nghiệp và sử dụng mạng xã hội như một công cụ để tạo hiệu ứng, tăng sức thuyết phục cho các bản luận cứ bào chữa, bảo vệ khách hàng của mình?

Mỗi luật sư sẽ có những lựa chọn của riêng mình và tự đặt ra những lằn ranh, giới hạn cho mình. Còn quan điểm và giới hạn của tôi: Không sử dụng mạng xã hội để show ra con người thứ hai nếu nó trái ngược với con người thứ nhất.

Do đó, tôi sẽ không viết một ý kiến pháp lý về một vụ việc nào đó nếu nó trái ngược với đạo đức, niềm tin và những giá trị mà bản thân mình tôn trọng.

Nếu buộc phải trình bày một lập luận pháp lý mà cá nhân tôi không đồng tình vì lý do nghề nghiệp, nó sẽ chỉ dừng lại ở những con chữ được sử dụng để trình bày trong một phạm vi cụ thể, ở một thời điểm cụ thể (ví dụ như nội dung trình bày trước tòa). Đó nhất định không phải là những thứ bày biện ra trên mạng xã hội hay các phương tiện truyền thông…

Tôi cho rằng trong công việc, luật sư vẫn phải trình bày những lập luận pháp lý có lợi cho khách hàng dù bản thân không yêu thích hành vi của họ. Tôi có thể bảo vệ quyền hợp pháp của một người mà không cần tán thành mọi việc người ấy đã làm. Nhưng trên trang cá nhân, tôi sẽ không biến lập luận (có tính nghề nghiệp) thành một niềm tin mà mình công khai cổ vũ.

Là một người-viết, tôi luôn đề cao giá trị của những con chữ. Những người viết giỏi, làm thơ hay… luôn khiến tôi đặc biệt ấn tượng. Tôi hiểu rằng những con chữ viết ra sẽ định nghĩa chính con người mình, nên sẽ không viết những điều mà bản thân mình khi đọc còn thấy xấu hổ.

Lồng ghép trong bài viết những câu từ miệt thị, tấn công người có quyền lợi đối lập với khách hàng của mình thì lại càng không.

Đó là giới hạn mà tôi tự đặt ra cho mình, để một ngày nào đó các con tôi lớn lên, khi đọc các bài viết của luật sư Đỉnh trên báo chí và mạng xã hội sẽ không phải thất vọng vì không giống với những điều bố Đỉnh vẫn dạy.

Đó là quan điểm cá nhân của tôi với một nghề nhọc nhằn nhưng cũng hết sức thú vị này.

Ngày 24/9/2026

Luật sư Nguyễn Văn Đỉnh