Ban Thường vụ Liên đoàn Luật sư Việt Nam vừa có văn bản số 197/LĐLSVN-BTV ngày 07/5/2026 gửi Chính phủ và Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam để kiến nghị về Nghị định số 109/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp (và một số lĩnh vực khác).

Đây là một văn bản rất quan trọng và được hơn 2 vạn luật sư quan tâm, mong chờ từ lâu. Các luật sư đều mong muốn, chờ đợi việc LĐLSVN có ý kiến chính thức, thể hiện vai trò của một tổ chức xã hội nghề nghiệp, đại diện cho các thành viên trong bối cảnh Nghị định 109 giao quyền cho Chủ tịch UBND cấp xã tước Chứng chỉ hành nghề (CCHN) luật sư.
Với tư cách một thành viên của LĐLSVN, tôi rất hoan nghênh và đánh giá cao văn bản số 197/LĐLSVN-BTV.
Văn bản số 197 có giá trị cao vềchuyên môn, chặt chẽ về tính pháp lý. Tôi rất mong ý kiến chính thức của Ban Thường vụ LĐLSVN sẽ được lãnh đạo Chính phủ, lãnh đạo Bộ Tư pháp quan tâm, xem xét để có “ứng xử” phù hợp với Nghị định 109.
Cụ thể, tại mục 1 của văn bản số 197 đã chỉ rõ sự không nhất quán trong nguyên tắc quản lý hành chính nhà nước, xung đột về thẩm quyền và xung đột quy phạm pháp luật: Nghị định 109 giao quyền cho Chủ tịch UBND cấp xã tước Chứng chỉ hành nghề (CCHN) luật sư; Tuy nhiên, Điều 83 Luật Luật sư quy định thẩm quyền cấp và thu hồi CCHN thuộc về Bộ Tư pháp. Việc Nghị định 109 giao quyền cho cấp xã bị đánh giá là xung đột trực tiếp với Luật Luật sư.
Nghị định 109 còn tạo xung đột về nguyên tắc xử lý hành chính: Nghị định số 118/2021/NĐ-CP quy định không tước CCHN nếu pháp luật đã có quy định về việc “thu hồi”. Trong khi đó, Điều 18 Luật Luật sư đã có quy định về thu hồi CCHN, nên việc Nghị định 109 quy định thêm hình thức “tước CCHN” là không phù hợp.
Văn bản số 197 cũng chỉ ra hệ quả tự động và tính khắc nghiệt của chế tài “tước CCHN”: Nếu luật sư bị xử phạt “tước CCHN” dù chỉ 01 tháng theo Nghị định 109 thì theo Điều 18 Luật Luật sư, họ sẽ thuộc trường hợp phải bị thu hồi CCHN, kéo theo việc bị thu hồi thẻ luật sư và bị xóa tên khỏi danh sách luật sư. Một vi phạm hành chính có thể dẫn đến việc “khai tử” nghề nghiệp của một luật sư một cách tự động nên cần đặc biệt thận trọng.
Tuy nhiên trong phần tổng kết, đánh giá, văn bản số 197 lại đúc kết: “Theo quy định nêu trên thì không nên quy định việc tước Chứng chỉ hành nghề luật sư trong Nghị định 109/2026/NĐ-CP nữa vì thu hồi Chứng chỉ hành nghề luật sư đã được quy định tại Điều 18 Luật Luật sư.”
Theo tôi, cần nhấn mạnh rằng KHÔNG ĐƯỢC PHÉP quy định việc tước Chứng chỉ hành nghề luật sư trong Nghị định 109 bởi quy định này tạo ra mâu thuẫn, xung đột pháp luật, cần phải sửa đổi, thay thế, bãi bỏ…; cần kiến nghị Cục Kiểm tra văn bản và Quản lý xử lý vi phạm hành chính kiểm tra Nghị định 109, đánh giá quy định của Nghị định này trong mối liên hệ với các văn bản quy phạm pháp luật khác để tham mưu cho Bộ Tư pháp có biện pháp xử lý với Nghị định 109.
“Tạm đình chỉ thực hiện” hay “tạm dừng hiệu lực thi hành”?
Và một tình tiết thực sự đáng tiếc của văn bản số 197 là việc sử dụng thuật ngữ:
– Phần trích yếu của văn bản số 197 thể hiện đề nghị: “tạm đình chỉ thực hiện” một số điều khoản trong Nghị định 109.
– Tại phần Kiến nghị (Mục 4.1), văn bản số 197 lại đề xuất “tạm dừng hiệu lực thi hành” quy định tại Điều 8, Điều 12 và khoản 1 Điều 84 Nghị định 109.
Đối chiếu với quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2025 thì cả hai thuật ngữ mà văn bản số 197 sử dụng đều chưa chuẩn xác.
Thay vào đó, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2025 sử dụng khái niệm “đình chỉ việc thi hành” VBQPPL (Điều 8) và “tạm ngưng hiệu lực” VBQPPL (Điều 56).
Về bản chất, “Đình chỉ việc thi hành” VBQPPL là một hành vi pháp lý của cơ quan, người có thẩm quyền, thường được áp dụng khi văn bản có dấu hiệu trái pháp luật, mâu thuẫn, chồng chéo… (hình thức này trên thực tế rất hiếm áp dụng bởi nó có tính chất một chế tài của cấp trên áp đặt lên cấp dưới, mang tính bất thường và có thể gây dư luận trong xã hội).
Trong khi đó, “Tạm ngưng hiệu lực” VBQPPL (toàn bộ hoặc một phần của văn bản) là biện pháp đó để kịp thời bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Cơ quan, người có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật sẽ có quyền ra quyết định tạm ngưng hiệu lực toàn bộ hoặc một phần của văn bản đó (mang tính chất “tự xử lý” thay vì một chế tài của cấp trên như hình thức “Đình chỉ việc thi hành”).
Hình thức “tạm ngưng hiệu lực” VBQPPL được áp dụng khá phổ biến với ví dụ tiêu biểu gần đây là Nghị quyết 09/2026/NQ-CP của Chính phủ về tạm ngưng hiệu lực của Nghị định số 46/2026/NĐ-CP quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật An toàn thực phẩm – một văn bản cũng gây xôn xao dư luận xã hội.
Giữa 2 hình thức xử lý văn bản này cũng có sự giao thoa: Khi văn bản bị đình chỉ việc thi hành, nó sẽ tự động bị tạm ngưng hiệu lực cho đến khi có quyết định xử lý của cơ quan, người có thẩm quyền (Điều 56 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật) .
Như vậy, văn bản số 197 lẽ ra cần kiến nghị 1 trong 2 phương thức: (i) Kiến nghị Quốc hội/Ủy ban Thường vụ Quốc hội đình chỉ việc thi hành một số điều khoản trong Nghị định 109; hoặc (ii) Kiến nghị Chính phủ ban hành Nghị quyết về tạm ngưng hiệu lực một số điều khoản trong Nghị định 109 (tương tự Nghị quyết 09/2026/NQ-CP của Chính phủ về tạm ngưng hiệu lực của Nghị định số 46/2026/NĐ-CP).
Có lẽ người chắp bút cho văn bản số 197 là luật sư chuyên tham gia tố tụng nên đã đem văn phong, câu chữ của tố tụng (“Tạm đình chỉ giải quyết vụ án”) vào văn bản kiến nghị đối với cơ quan hành chính (“tạm đình chỉ thực hiện” văn bản QPPL).
Luật sư Nguyễn Văn Đỉnh