Đọc Nghị quyết 29 do Quốc hội vừa ban hành mà tôi thấy bật cười với nguyên tắc thực hiện tại Điều 3 Nghị quyết: “Bảo đảm không hợp pháp hóa sai phạm”. Nếu nguyên tắc “không để phát sinh sai phạm mới” là hiển nhiên và dễ hiểu thì nguyên tắc “Bảo đảm không hợp pháp hóa sai phạm” là quá khó hiểu và quá khó để triển khai thực hiện?

Tại sao ư? Vì bản chất Nghị quyết 29 được ban hành để tháo gỡ trong trường hợp chẳng đặng đừng với các dự án đã có vi phạm/sai phạm, dẫn đến ách tắc thủ tục pháp lý trong nhiều năm (theo báo cáo của cơ quan quản lý thì có tới hơn 4.000 dự án gặp khó khăn, vướng mắc với quy mô gần 200.000 hec-ta đất và tổng mức đầu tư hơn 3 triệu tỷ đồng). Dự án đã mắc sai phạm xuất phát từ lỗi cả chủ quan và khách quan, có người đã bị xử lý kỷ luật, thậm chí vướng vòng lao lý, tù tội – từ cán bộ, công chức nhà nước cho đến nhà đầu tư và dự án thì “đắp chiếu” suốt bao năm.

Nay Nhà nước quyết định đưa ra giải pháp tháo gỡ cho các dự án để thúc đẩy phát triển kinh tế, phục vụ mục tiêu tăng trưởng “hai con số”. Dự án đã có sai phạm, bây giờ muốn cho dự án được chạy tiếp mà lại “không hợp pháp hóa sai phạm” thì có phải là “tiêu chuẩn kép” không?

Đi từ nguyên tắc khá khiên cưỡng tại Điều 3 Nghị quyết 29 dẫn đến các giải pháp cụ thể cũng chưa thực sự mang tính tháo gỡ như kỳ vọng của doanh nghiệp, nhà đầu tư, đặc biệt là với loại hình bất động sản du lịch trên “đất ở không hình thành đơn vị ở” tại Điều 11 Nghị quyết (tôi đã có một bài viết riêng và quay video phân tích chi tiết).

Bên cạnh đó, nguyên tắc tại Điều 3 Nghị quyết 29 cũng dẫn đến sự tự mâu thuẫn trong chính các quy định của Nghị quyết. Điển hình là quy định ở Điều 12 về xử lý tiếp tục giao đất, cho thuê đất đối với các dự án vi phạm về lựa chọn nhà đầu tư. Đây là những dự án có sai phạm: theo quy định thì lẽ ra cơ quan nhà nước phải tổ chức đấu giá, đấu thầu công khai, cạnh tranh để lựa chọn nhà đầu tư nhưng họ đã không làm thế mà áp dụng cơ chế chỉ định trực tiếp. Bây giờ, nếu tháo gỡ bằng cách chấp nhận cho dự án chạy tiếp mà không phải thực hiện lại thủ tục đấu giá, đấu thầu thì có phải là chấp nhận cho vi phạm tồn tại, là hợp pháp hóa vi phạm không?

Tiếp đến là quy định ở Điều 13 về xử lý đối với dự án không thuộc trường hợp Nhà nước thu hồi đất mà chính quyền địa phương vẫn tổ chức thu hồi đất. Bây giờ nếu cho dự án tiếp tục triển khai và giao đất cho nhà đầu tư thực hiện thì có phải là chấp nhận hợp pháp hóa vi phạm không?

Hay quy định ở Điều 14 về xử lý các dự án có vi phạm về mục đích sử dụng đất. Nghị quyết cho phép nhà đầu tư không phải tháo dỡ đối với phần công trình phù hợp quy hoạch; không buộc khôi phục tình trạng ban đầu của đất (nhưng vẫn bị xử phạt hành chính, phải nộp lại số lợi bất hợp pháp). Bản chất đây có phải là hợp pháp hóa vi phạm không?

Một cách tổng quát, giữa nguyên tắc tại Điều 3 Nghị quyết 29 và những quy định cụ thể của Nghị quyết đang vênh nhau. Tôi đánh giá cao các giải pháp tháo gỡ cụ thể tại Điều 12, 13, 14, chúng có thể giúp tháo gỡ cho nhiều dự án để bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư và đặc biệt là các khách hàng, những bên thứ ba ngay tình chịu thiệt hại từ việc dự án bị ách tắc, đình trệ.

Tuy nhiên, nguyên tắc “không hợp pháp hóa sai phạm” đặt ngay tại Điều 3 Nghị quyết phải chăng có gì đó “cấn cấn”, vô hình trung tạo ra một “vòng kim cô” tâm lý, khiến người thực thi sẽ phải cẩn trọng (nói cách khác là “dè chừng”). Từ đó, các quyết định tháo gỡ cho từng dự án cụ thể có thể sẽ chậm ban hành hoặc được ban hành nhưng theo hướng bất lợi cho nhà đầu tư (vì sợ bị quy kết là “hợp pháp hóa sai phạm”), dẫn đến chính sách đặc thù của Nghị quyết 29 có thể không thực sự phát huy tác dụng?

Một cách tổng quát, sự tháo gỡ tại các Điều 12, 13, 14 của Nghị quyết 29 thực chất là một sự lựa chọn “đánh đổi” chính sách: Chấp nhận sự tồn tại của các hệ quả từ sai phạm trong quá khứ để khơi thông nguồn lực kinh tế khổng lồ đang bị giam cầm. Việc đặt ra nguyên tắc “Không hợp pháp hóa sai phạm” có vẻ là một nỗ lực nhằm duy trì tính tôn nghiêm của pháp luật, nhưng về mặt logic lại tạo ra sự xung đột trực diện với chính các giải pháp tháo gỡ cụ thể của Nghị quyết.

Ngày 05/5/2026

Luật sư Nguyễn Văn Đỉnh